Các phần
Transcript
- 0:05
퐁 류 어디 있어? 당장 나와!
Thằng Phong Lưu đâu, ra đây tao bảo!
- 0:08
덩치 큰 남학생 하나가 우리 반 문 앞을 가로막고 고래고래 소리를 질렀다.
Thằng học sinh to con đứng chắn ngay cửa lớp tôi mà tru tréo.
- 0:15
나야. 왜?
Tao. Sao?
- 0:18
너 제법이다? 내 친구한테 건방지게 굴었다며, 잘났어 정말.
Mày ngon ha. Nói chuyện láo cá với bạn tao, mày ngon nhỉ.
- 0:22
나와서 얘기해. 뭘 그렇게 숨어 있어, 맞을까 봐 무섭냐?
Bước ra đây chứ làm gì núp núp thế, sợ ăn đòn à?
- 0:26
그래서, 뭐?
Rồi, sao nữa?
- 0:29
이 자식 봐라, 건방진 거 봐!
Đậu má mày láo này, láo này!
- 0:31
나는 그 녀석과 일대일로 맞붙었다. 중학교 3학년 때 나는 이미 사고뭉치로 소문나 있었다.
Tôi chọi tay đôi với nó. Năm lớp 9, tôi đã mang tiếng thằng quậy phá,
- 0:37
툭하면 싸우는데도 성적은 반에서 늘 상위권이었다.
hay đánh nhau, vậy mà học lại đứng top lớp.
- 0:40
어릴 때부터 고집 세고 철없었고, 무서운 애가 하나도 없었다.
Tính tôi ngang ngạnh từ nhỏ, trẻ trâu, và chẳng ngán đứa nào cả.
- 0:45
주먹으로 안 되자 이번엔 의자였다.
Hết dùng tay thì tới ghế.
- 0:48
키 166센티에 몸무게 40킬로인 나 따위는 그 녀석에게 아무것도 아니었다.
Cao một mét sáu sáu, nặng bốn mươi ký như tôi thì chẳng là gì với nó.
- 0:53
결국 나는 실컷 얻어맞았다. 눈은 멍들고, 입술은 터지고, 코피가 줄줄 흘렀다.
Kết cục tôi ăn đòn no nê: mắt bầm, môi rách, mũi chảy máu ròng ròng.
- 0:59
너희들 당장 그만해! 멈춰! 교장실로 따라와!
Các em thôi ngay! Dừng lại! Vào phòng hiệu trưởng gặp tôi!
- 1:06
너 지금 뭐 하는 짓이야? 이번 주에만 반성문을 몇 장 썼는지 알기나 해?
Em làm cái trò gì thế? Có biết tuần này bao nhiêu cái bản kiểm điểm rồi hay không?
- 1:12
부모님을 불러 줄까, 아니면 징계위원회에 가고 싶어?
Em thích tôi mời phụ huynh, hay muốn ra hội đồng kỷ luật?
- 1:19
내일 부모님 모시고 와.
Mai mời phụ huynh lên đây cho tôi.
- 1:22
엄마는 일하러 가서 바쁘세요, 선생님.
Mẹ em đi làm, không rảnh đâu thầy.
- 1:25
그럼 아버지 모시고 와서 나랑 얘기하자고 해!
Vậy mời bố em lên đây làm việc với tôi!
- 1:28
그 사람은 애인이랑 살아요.
Ổng ở với bồ nhí ổng rồi.
- 1:31
교장 선생님은 얼어붙은 듯 나를 빤히 쳐다보았다.
Thầy hiệu trưởng sững người, nhìn tôi trân trân.
- 1:35
뭔가 알아챈 듯, 표정이 확 누그러졌다.
Hình như ông hiểu ra điều gì đó, nét mặt dịu hẳn xuống.
- 1:41
여기 어머니 휴대폰 번호 적어.
Ghi số di động mẹ em vào đây.
- 1:46
네, 선생님. 교실로 돌아가겠습니다.
Rồi thầy. Em về lớp.
- 1:52
나, 3학년 4반의 외톨이.
Tôi, thằng tự kỷ của lớp 9/4.
- 1:54
그 반에서 나는 친구가 단 한 명도 없었다.
Trong cái lớp đó tôi không có lấy một đứa bạn.
- 1:58
엄마는 이렇게 말한 적이 있다. "가장 아프게 하는 사람은 바로 네가 가장 사랑하는 사람이란다."
Mẹ tôi từng nói: "Kẻ làm ta đau nhất, chính là kẻ mà con yêu thương nhiều nhất."
- 2:04
엄마가 그 말을 한 건 아빠가 다른 여자를 따라 집을 나간 뒤였다.
Mẹ nói câu đó sau ngày bố tôi bỏ đi, theo một người đàn bà khác,
- 2:09
어린 딸까지 데리고서. 그때 나는 겨우 일고여덟 살이었다.
dắt theo cả một đứa con gái nhỏ. Hồi ấy tôi mới bảy, tám tuổi.
- 2:14
그 뒤로는 엄마와 나, 단둘이 서로 의지하며 살았다.
Từ đó chỉ còn hai mẹ con nương tựa nhau.
- 2:17
엄마 월급은 얼마 되지 않아서 밥이 모자란 날도 있었다.
Lương mẹ chẳng được bao nhiêu, cơm có bữa không đủ ăn.
- 2:22
이웃들은 아빠 없는 아이를 보는 눈으로 나를 보았다.
Hàng xóm nhìn tôi bằng con mắt dành cho đứa con không cha.
- 2:26
친구가 없었던 건 아니다. 다만 그 반에 없었을 뿐.
Bạn bè thì tôi có, nhưng không ở trong lớp ấy.
- 2:30
초등학교 때부터 같은 학교를 다닌 단짝 여섯 명.
Sáu thằng chí cốt học chung trường từ cấp một.
- 2:34
학교 정문을 나서야 비로소 우리들의 세상이었다.
Ra khỏi cổng trường mới là thế giới của tụi tôi.
- 2:38
엄마의 그 당부는 번을 만난 날부터 마음 한구석에 묻어 두었다.
Còn câu dặn của mẹ, tôi đã lỡ cất vào một góc từ ngày gặp Vân.
- 2:45
나는 따가운 시선들 사이로 교실에 들어섰다.
Tôi bước vào lớp giữa những ánh mắt soi mói.
- 2:49
신경 꺼, 너희들.
Thây kệ chúng mày.
- 2:52
보기 피곤하면 보지 말든가.
Nhìn mệt thì khỏi nhìn.
- 2:56
"퐁, 오늘 수업 끝나고 잠깐 남아서 나 좀 봐."
"Bạn Phong, chiều hết tiết ở lại gặp tôi một chút."
- 3:00
반장 씀.
Ký tên: Lớp trưởng.
- 3:03
미친 계집애, 나는 속으로 욕했다.
Con nhỏ điên, tôi chửi thầm.
- 3:06
또 반 성적 경쟁 때문에 한소리 하려는 거겠지.
Chắc lại định chửi gì nữa vì cái thành tích thi đua của lớp.
- 3:13
야, 잠깐!
Ê này!
- 3:16
남아서 나 좀 보라고 했잖아, 왜 그냥…
Bảo bạn ở lại gặp mình cơ mà, sao thế…
- 3:19
어, 야, 야!
ơ, này, này!
- 3:22
뭐야? 귀찮게. 내일 얘기해.
Gì thế? Rắc rối vậy. Mai nói.
- 3:24
안 돼.
Không được.
- 3:27
남아서 나랑 얘기 좀 해.
Bạn ở lại nói chuyện với mình đi.
- 3:33
텅 빈 교실에 남은 건 우리 둘뿐이었다.
Lớp học chẳng còn ai, chỉ còn hai đứa:
- 3:36
예쁘고 키 큰 반장, 그리고 막 나가는 사고뭉치.
cô lớp trưởng xinh đẹp cao ráo, và thằng học sinh quậy phá bất cần.
- 3:41
저기, 퐁은 싸우는 게 그렇게 좋아?
Này, Phong thích đánh nhau lắm à?
- 3:44
안 좋아해. 걔가 시비 거니까 싸우는 거지.
Không thích. Nó gây thì đánh thôi.
- 3:47
좀 참으면 안 돼?
Bộ nhịn không được à?
- 3:50
퐁, 이번 달에만 벌써 두 번 싸운 거 알아?
Phong có biết tháng này Phong đánh nhau hai lần rồi không?
- 3:54
부모님 호출에 품행 점수도 깎인다고!
Sẽ bị mời phụ huynh, hạ hạnh kiểm đấy!
- 3:57
그래서, 뭐?
Rồi, sao nữa?
- 4:00
선생님이 나더러 퐁을 맡으래. 내가 반장이니까.
Cô bảo mình phải kèm Phong, vì mình là lớp trưởng.
- 4:04
그러니까 내일부터 퐁은 나랑 같이 학교 가고, 같이 집에 가는 거야.
Nên từ mai Phong sẽ đi học chung với mình, đi học về với mình.
- 4:09
우리 집은 퐁네 집이랑 멀지만, 가는 길이야.
Nhà mình xa nhà Phong, nhưng tiện đường về.
- 4:12
그럼 그렇게 알아. 안녕.
Thế nhé, chào.
- 4:15
어… 야… 근데 이름이 뭐야?
Ơ… này… Thế tên gì thế?
- 4:18
난 응옥이야. 바오 응옥. 바이바이!
Mình tên Ngọc. Bảo Ngọc. Pai pai!
- 4:24
내가 교문을 나섰을 때는 이미 해가 기울고 있었다.
Tôi ra tới cổng thì trời đã ngả chiều.
- 4:27
번은 길 건너 나무 아래에서 가방을 가슴에 안고 언제부터인지 나를 기다리고 있었다.
Vân đứng dưới gốc cây bên kia đường, ôm cặp trước ngực, chờ tôi từ lúc nào.
- 4:35
세상에, 오빠 얼굴이 왜 이래?
Trời ơi, mặt anh sao vầy nè?
- 4:38
넘어졌어.
Té.
- 4:40
넘어졌는데 눈에 멍이 들고 입술이 터져? 오빠 또 싸웠지?
Té mà bầm con mắt, rách cái môi? Anh lại đánh nhau nữa phải không?
- 4:45
걔가 먼저 시비 걸었어.
Nó gây trước.
- 4:51
나는 가만히 서서 번이 닦아 주는 대로 두었다.
Tôi đứng im cho em lau,
- 4:54
왠지 교장실에 앉아 있을 때보다 더 미안한 마음이 들었다.
tự dưng thấy mình có lỗi hơn cả lúc ngồi trong phòng thầy hiệu trưởng.
- 5:02
다음 날부터 응옥은 정말 약속을 지켰다.
Từ hôm sau, Ngọc giữ lời thật.
- 5:05
아침마다 길 어귀에서 기다렸고, 오후마다 같은 길을 함께 걸어 돌아갔다.
Sáng nào cũng đứng chờ ở đầu đường, chiều nào cũng đi về cùng một quãng.
- 5:11
그 애는 나에게 필기를 베끼게 하고, 내가 졸다 놓친 부분을 다시 설명해 주었다.
Nó bắt tôi chép bài, giảng lại mấy chỗ tôi ngủ gục bỏ qua.
- 5:15
귀찮았지만 말로는 당해 낼 수가 없었다.
Tôi thấy phiền, mà cãi không lại.
- 5:18
퐁, 이 문제 풀었어?
Phong làm bài này chưa?
- 5:21
아니.
Chưa.
- 5:23
왜 안 풀었어?
Sao chưa?
- 5:26
바빠서.
Bận.
- 5:29
싸우느라 바빴어, 아니면 여자 친구 만나느라 바빴어?
Bận đánh nhau hay bận đi với bạn gái?
- 5:34
어디서 들었는지 몰라도, 그 반장은 번의 일을 아주 일찍부터 알고 있었다.
Chẳng biết nó nghe ở đâu, mà con nhỏ lớp trưởng ấy biết chuyện Vân từ rất sớm.
- 5:45
그때 나에게 응옥은 그저 참견 많은 반장일 뿐이었다.
Với tôi lúc đó, Ngọc chỉ là con nhỏ lớp trưởng lắm chuyện,
- 5:49
선생님한테서 반 최고 말썽꾼을 돌보는 고역을 떠맡았을 뿐. 그게 다였다.
được cô giao cái việc khổ sai là kèm thằng quậy nhất lớp. Thế thôi.
- 5:58
열네 살의 나는 몰랐다. 중학교 3학년 때 내 곁을 걷던 그 두 소녀가
Hồi mười bốn tuổi, tôi đâu có biết, cả hai cô gái đi cạnh tôi năm lớp 9 ấy
- 6:03
훗날 내 인생에 가장 깊은 상처 두 개를 남기리라는 것을.
rồi sẽ để lại trong đời tôi hai vết thương sâu nhất.
- 6:08
한 사람은 나를 사랑해서 영영 떠났고, 한 사람은 남았다가 결국 나를 떠났다.
Một người vì thương tôi mà đi mãi. Một người thì ở lại, rồi bỏ tôi mà đi.
