0:00 / 0:00

Transcript

  1. 0:05

    2006년 6월.

    Tháng 6, năm 2006.

  2. 0:07

    롱 녀석네 패거리는 나를 묘지에서 끌어내긴 했지만,

    Đám thằng Long lôi được tôi ra khỏi nghĩa trang,

  3. 0:11

    내 마음속 구덩이에서까지 끌어내지는 못했다.

    nhưng không lôi được tôi ra khỏi cái hố trong lòng.

  4. 0:15

    나는 집에 돌아와 방에 틀어박혔고, 누가 불러도 대답하지 않았다.

    Tôi về nhà, nằm lì trong phòng, ai gọi cũng không thưa.

  5. 0:22

    내 방문을 가장 많이 두드린 사람은 뜻밖에도 응옥이었다.

    Người gõ cửa nhiều nhất lại là Ngọc.

  6. 0:28

    그 반장 계집애는 필기한 공책을 한 아름 안고 와서,

    Con nhỏ lớp trưởng ôm theo một chồng tập chép bài,

  7. 0:32

    내 책상 위, 번의 사진 바로 옆에 내려놓았다.

    đặt lên bàn học, ngay cạnh tấm hình Vân.

  8. 0:35

    응옥은 번 얘기는 꺼내지도 않았고, 기운 내라는 말도 하지 않았다.

    Nó không nhắc gì tới em, cũng không khuyên tôi phải vui lên.

  9. 0:40

    그저 10학년 입학시험이 몇 주 안 남았다고만 하고는,

    Nó chỉ nói còn mấy tuần nữa là thi vào lớp 10,

  10. 0:44

    거기 앉아 설명을 했다. 내가 펜을 집어 들 때까지 계속.

    rồi ngồi đó giảng bài, giảng cho tới khi tôi chịu cầm cây bút lên mới thôi.

  11. 0:52

    다음 날도 왔다. 그다음 날도 마찬가지였다.

    Hôm sau nó lại tới. Hôm sau nữa cũng vậy.

  12. 0:58

    시험이 끝나도 응옥은 계속 왔다.

    Thi xong, nó vẫn tới.

  13. 1:01

    쩨를 먹으러 가자고 조르다가, 아니면 바닷바람 쐬러 가자고 끌고 나갔고,

    Hết rủ đi ăn chè thì rủ ra biển ngồi hóng gió,

  14. 1:07

    입은 9학년 때 나를 맡았던 시절처럼 쉴 새가 없었다.

    mồm vẫn nói không ngớt như hồi kèm tôi năm lớp 9.

  15. 1:11

    나는 앉아서 듣기만 하고 아무 말도 안 했지만, 그렇다고 돌려보내지도 않았다.

    Tôi ngồi nghe, chẳng nói gì, mà cũng chẳng đuổi về.

  16. 1:21

    그게 언제부터였는지는 모르겠다. 다만 여름이 끝나 갈 무렵 어느 오후,

    Tôi không biết là từ hôm nào. Chỉ nhớ có một buổi chiều cuối hè,

  17. 1:26

    둘이 바닷가를 따라 걷다가 내 손이 응옥의 손을 잡고 있다는 걸 깨달았다.

    hai đứa đi bộ dọc bờ biển, tôi nhận ra tay mình đang nắm tay nó.

  18. 1:34

    나는 놓지 않았다.

    Tôi không buông.

  19. 1:37

    응옥도 손을 빼지 않았다.

    Ngọc cũng không rút tay lại.

  20. 1:39

    지금 돌이켜 보면, 그때 내가 번을 잊었다고는 감히 말하지 못하겠다.

    Giờ nhìn lại, tôi không dám nói hồi đó tôi đã quên được Vân.

  21. 1:44

    어쩌면 나는 물에 빠져 죽어 가던 놈이라, 손에 잡히는 건 뭐든 붙들었던 건지도 모른다.

    Có lẽ tôi chỉ là một thằng sắp chết đuối, vớ được cái gì thì bám lấy cái đó.

  22. 1:50

    하지만 응옥을 아낀 건 진심이었다.

    Nhưng tôi thương Ngọc thật.

  23. 1:53

    열다섯 살 사내놈에게 남아 있던 모든 것을 다해서.

    Thương bằng tất cả những gì một thằng con trai mười lăm tuổi còn sót lại.

  24. 2:01

    그때부터 우리 패거리는 놀러 다닐 때 여덟 명이 됐다.

    Từ đó, nhóm tụi tôi đi chơi có tám người.

  25. 2:05

    바오, 찌엔, 브엉, 롱, 티엔, 민, 그리고 나까지 일곱.

    Bảo, Chiến, Vương, Long, Thiện, Minh, và tôi nữa là bảy.

  26. 2:09

    일곱 놈은 유치원 꼬맹이 때부터 같이 놀았다. 딱지치기,

    Bảy thằng chơi với nhau từ hồi mẫu giáo bé: sủi hình,

  27. 2:13

    구슬치기, 고무줄 튕기기, 귀뚜라미 잡기, 물고기 싸움 붙이기.

    bắn bi, búng thun, bắt dế, đá cá.

  28. 2:16

    조금 크고 나서는 패싸움, 술, 담배.

    Lớn lên chút thì đánh lộn, nhậu nhẹt, thuốc lá.

  29. 2:20

    일곱 놈은 한 뱃속에서 나온 형제나 다름없었다.

    Bảy thằng như bảy khúc ruột.

  30. 2:23

    돈이 2천 동밖에 없을 때는 500동짜리 음료수 한 봉지를 사서,

    Có lúc tiền chỉ còn hai ngàn, mua một bịch nước năm trăm,

  31. 2:27

    넷이 빨대로 나눠 빨고, 셋은 얼음을 씹었다.

    bốn thằng hút chung, ba thằng nhai đá.

  32. 2:30

    일곱은 초등학교, 중학교, 고등학교를 같은 데서 다녔는데, 공부 잘하는 놈은 하나도 없었고,

    Bảy đứa học chung trường cấp một, cấp hai, rồi cấp ba, không thằng nào học giỏi,

  33. 2:36

    사고 치고 싸우는 데만 도가 텄다.

    chỉ giỏi quậy phá với đánh nhau.

  34. 2:39

    친구들은 우리를 "소 떼 무리"라고 불렀다.

    Tụi bạn gọi cả nhóm là "trâu bò một lũ".

  35. 2:42

    제일 부자는 롱네 집이었다.

    Nhà thằng Long giàu nhất.

  36. 2:45

    아버지는 꽤 이름난 변호사였고, 어머니는 도립 병원 심장내과 과장이었다.

    Bố nó là luật sư khá nổi tiếng, mẹ nó là trưởng khoa tim mạch bệnh viện tỉnh.

  37. 2:51

    패거리 중에 가난하고 아버지 없는 놈은 나 하나뿐이었다.

    Cả nhóm chỉ có tôi là thằng nghèo, không cha.

  38. 2:55

    롱은 멍청한 소리를 해 댔다. 찌엔은 한마디 할 때마다 속을 뒤집어 놨다.

    Thằng Long nói chuyện ngáo đời. Thằng Chiến nói câu nào sốc gan câu đó.

  39. 3:00

    민은 말을 글처럼 번드르르하게 했다.

    Thằng Minh ăn nói văn vẻ.

  40. 3:03

    티엔은 넉살이 좋았다.

    Thằng Thiện ba lém.

  41. 3:06

    바오는 그저 맞장구만 쳤다.

    Thằng Bảo chỉ biết hùa theo.

  42. 3:08

    그리고 브엉은 말수가 적어서 나랑 제일 닮았다.

    Còn thằng Vương ít nói, giống tôi nhất.

  43. 3:14

    응옥이 생기자 패거리는 나를 "큰형님"으로 추대했다. 이유는 내가 키가 제일 크다는 것이었다.

    Có Ngọc, tôi được cả đám bầu làm "lão đại", lý do là tôi cao nhất.

  44. 3:20

    응옥은 자연스레 "큰형수님"이 됐다.

    Ngọc nghiễm nhiên thành "đại phu nhân".

  45. 3:23

    응옥은 착하고 얌전했다.

    Ngọc hiền, lại ngoan.

  46. 3:25

    우리랑 다닐 때도 일곱 놈 모두를 꼬박꼬박 "오빠"라고 불렀다.

    Đi với tụi tôi, nó vẫn xưng "anh" với cả bảy đứa.

  47. 3:29

    성격이 재치 있고 발랄해서, 같이 다닐 때마다 즐거웠다.

    Tính nó lém lỉnh, nên lần nào đi chung cũng vui.

  48. 3:33

    어떤 날은 우르르 바다로 산책을 나갔고, 어떤 날은 우유를 마시러 가거나 축구를 했다.

    Khi thì kéo nhau ra biển dạo, khi thì đi uống sữa, đá bóng.

  49. 3:38

    그 시절 나는 내가 수면 위로 올라왔다고 생각했다.

    Những ngày đó, tôi tưởng mình đã ngoi lên được.

  50. 3:45

    그건 낮의 이야기였다.

    Đó là ban ngày.

  51. 3:47

    밤이 되면 나는 여전히 흥 영감 밑의 우두머리였는데, 그 얘기는 나중에 하겠다.

    Còn ban đêm, tôi vẫn là thằng đầu sỏ dưới trướng lão Hưng, chuyện ấy tôi sẽ kể sau.

  52. 3:54

    응옥은 묻지 않았다. 나도 말하지 않았다.

    Ngọc không hỏi. Tôi cũng không kể.

  53. 4:00

    2006년 9월.

    Tháng 9, năm 2006.

  54. 4:02

    10학년이 되자 응옥은 우리와 다른 학교에 다니게 됐다.

    Lên lớp 10, Ngọc không học chung trường với tụi tôi.

  55. 4:06

    새 학교, 새 친구들.

    Trường mới, bạn mới.

  56. 4:09

    응옥은 꾸미기 시작했고, 내 옷차림이 자기 "스타일"에 안 맞는다고 자주 타박했다.

    Nó bắt đầu biết ăn diện, hay chê tôi ăn mặc không hợp "style" của nó.

  57. 4:15

    나는 슬리퍼에 반바지, 티셔츠밖에 몰랐다.

    Tôi thì chỉ biết dép lê, quần lửng, áo thun.

  58. 4:18

    둘 사이에 다툼이 생기기 시작했다.

    Hai đứa bắt đầu xích mích.

  59. 4:21

    처음에는 사소한 일들이었다. 늦게 온다, 오토바이가 없다, "옷이 왜 이렇게 시커매".

    Ban đầu là những chuyện nhỏ nhặt: đi trễ, không có xe máy, hay "đồ gì mà đen thế".

  60. 4:27

    나중에는 며칠씩, 몇 주씩 토라져 지냈다.

    Về sau là những lần giận nhau vài ngày, vài tuần.

  61. 4:31

    야후 메신저 답장은 건성으로, 뚝뚝 끊겼다.

    Những câu trả lời Yahoo hời hợt, cụt lủn.

  62. 4:37

    민도 더는 패거리와 어울려 다니지 않았다.

    Thằng Minh cũng không còn đi chơi với nhóm.

  63. 4:41

    민 자식 요즘 무슨 도련님 같다니까.

    Thằng Minh dạo này như công tử á mày.

  64. 4:44

    빗질에 멋 부리는 꼴이 돼지 같아.

    Chải chuốt, điệu như lợn.

  65. 4:47

    그러게, 망할 놈.

    Ờ, cái định mệnh nó.

  66. 4:49

    놀자고 찾아갔더니 자기 아버지 오토바이를 빌려서 어딜 가더라고.

    Tao qua rủ, thấy nó mượn xe ông già nó đi đâu đó.

  67. 4:53

    물어봐도 대답도 안 해.

    Tao hỏi, nó không thèm trả lời.

  68. 4:56

    걔가 그 정도야? 오후에 걔네 집 들르자.

    Nó tệ vậy à? Chiều tạt qua nhà nó.

  69. 4:59

    패 버려!

    Đập!

  70. 5:01

    내버려 둬.

    Kệ nó đi.

  71. 5:04

    걔 일이야, 상관 마.

    Chuyện của nó, mặc.

  72. 5:10

    2007년 6월.

    Tháng 6, năm 2007.

  73. 5:12

    여섯 놈이 옆 동네와 축구를 하러 갔다. 오후에 돌아오는 길에 나는 민을 만났다.

    Sáu thằng đi đá bóng với xóm bên. Chiều về, tôi gặp thằng Minh.

  74. 5:17

    락아, 게임 한판 할래?

    Cu lác, game không?

  75. 5:20

    어, 어, 타. 내가 태워 줄게.

    Ờ ờ, lên xe tao đèo.

  76. 5:23

    오늘은 오토바이까지 타고 다니네, 폼 나는데.

    Nay đi xe máy luôn, oách ghê.

  77. 5:25

    아버지한테 빌린 거야, 인마.

    Xe mượn ông già mày ơi.

  78. 5:28

    옷도 잘 빼입고 향수까지 뿌렸네.

    Mặc đồ đẹp vậy, xịt nước hoa luôn.

  79. 5:31

    여자 만나러 가는 거지 뭐.

    Đi với gái chứ gì nữa.

  80. 5:33

    여자는 무슨 여자.

    Gái gì mà gái.

  81. 5:36

    PC방에 들어가서 둘이 나란히 컴퓨터 앞에 앉았다.

    Vô quán, hai đứa ngồi hai máy cạnh nhau.

  82. 5:39

    한 십오 분쯤 지났을까.

    Được chừng mười lăm phút.

  83. 5:42

    나 화장실 좀.

    Tao đi vệ sinh xíu.

  84. 5:45

    나는 하프라이프를 하고 있었다. 녀석의 컴퓨터를 힐끗 보니 채팅 창이 흔들렸다. BUZZ!!!

    Tôi đang chơi Half-Life. Liếc qua máy nó thì thấy cửa sổ chat rung lên. BUZZ!!!

  85. 5:51

    Gauconyeuanh1591: 자기야, 오후에 나 쇼핑 좀 데려가 줘 :*

    Gauconyeuanh1591: chồng ơi, chiều chở vợ đi mua đồ nhé :*

  86. 5:55

    나는 얼어붙었다. 내 눈을 믿을 수가 없었다.

    Tôi sững sờ. Không tin vào mắt mình.

  87. 5:58

    다시 한번 자세히 들여다보았고, 이내 눈앞이 흐려졌다.

    Nhìn kỹ lại một lần nữa, rồi mắt tôi nhòe đi.

  88. 6:02

    나는 녀석의 휴대폰을 집어 들고 응옥의 번호를 눌렀다.

    Tôi cầm điện thoại nó lên, bấm số của Ngọc.

  89. 6:06

    화면에 글자가 떴다. "여보 N".

    Màn hình hiện lên hai chữ: "Vợ N".

  90. 6:13

    밖에는 비가 억수같이 쏟아지고 있었다.

    Ngoài trời đang mưa to.

  91. 6:18

    나는 일어나 계산을 하고, 터덜터덜 집으로 걸었다.

    Tôi đứng dậy tính tiền, lững thững đi về.

  92. 6:22

    두 시간 동안 비를 맞으며.

    Hai tiếng đồng hồ dầm mưa.

  93. 6:25

    그날 밤 나는 고열에 시달리다 병원에 입원했다.

    Tối đó tôi sốt cao, phải nhập viện.

  94. 6:31

    퐁, 너 요즘 왜 그래? 얼굴이 꼭 똥 덩어리 같다.

    Dạo này sao thế Phong? Mặt mày như cục phân ấy.

  95. 6:35

    젠장, 찌엔 너는 왜 그렇게 속 뒤집는 소리만 골라서 하냐?

    Đậu má, sao mày thích nói sốc gan thế thằng Chiến?

  96. 6:39

    그 주둥이 좀 닥쳐 봐.

    Câm mõm mày lại tao xem.

  97. 6:42

    그래, 찌엔 진짜 속 뒤집어.

    Ờ, thằng Chiến sốc thiệt.

  98. 6:44

    너도 만만치 않아, 맞장구 전문가.

    Mày thì ít gì, thằng hùa theo.

  99. 6:47

    녀석들은 길모퉁이 한쪽에서 시끄럽게 욕지거리를 주고받았다. 브엉이 말없이 내 어깨를 둘러메고 걸었다.

    Tụi nó cứ chửi nhau inh ỏi một góc phố. Thằng Vương lẳng lặng vác vai tôi đi.

  100. 6:53

    쳇, 여자는 피곤해. 우리랑 가자.

    Xầy, con gái mệt lắm. Đi với tụi tao.

  101. 6:56

    오늘 우리 엄마가 돈 줬다.

    Nay bà già cho tiền.

  102. 6:59

    오늘 술은 내가 다 쏜다아아!

    Hôm nay đi nhậu, tao lo hếtttt!

  103. 7:01

    그럼 뭘 기다려, 당장 가자.

    Thế thì chờ chi nữa, triển ngay.

  104. 7:04

    퐁이 쏜다는 소리만 들으면 신나 한다니까.

    Thằng Phong, nghe bao là sướng.

  105. 7:07

    넌 입 다물어.

    Mày im.

  106. 7:12

    여섯 놈은 단골 술집에 닻을 내렸다.

    Sáu thằng cập bến một quán nhậu quen.

  107. 7:16

    하이 아줌마, 술 다섯 병이랑 맛있는 안주 좀 줘요.

    Cho năm xị với mồi ngon ngon bà Hai ơi.

  108. 7:19

    너희 돈은 있고 큰소리야?

    Tụi bây có tiền không mà mạnh mồm?

  109. 7:22

    돈부터 보여 봐.

    Đưa tiền tao xem.

  110. 7:24

    지금 팔 거예요, 말 거예요? 안 팔면 딴 데 가고요.

    Giờ có bán không, tui đi quán khác.

  111. 7:27

    장사를 뭐 이렇게 해.

    Bán buôn kiểu gì thế.

  112. 7:30

    너 어른한테 말버릇이 그게 뭐야?

    Mày nói chuyện với người lớn thế hả?

  113. 7:33

    내가 이 가게 홀랑 태워 버려도 내일 아무렇지도 않게 술 마시러 다닐 수 있다는 거 믿어요, 안 믿어요?

    Bà có tin tui đốt trụi quán bà mà mai tui vẫn đi nhậu bình thường không?

  114. 7:39

    돈 좋아하면 기어 와서 세 보시든가.

    Thích tiền không, bơi vào mà đếm.

  115. 7:44

    녀석은 10만 동짜리 지폐 세 장을 탁자에 내리쳤다. 가게 안 사람들이 전부 고개를 돌려 쳐다보았다.

    Nó đập ba tờ trăm nghìn lên bàn. Cả quán ai cũng quay lại nhìn.

  116. 7:48

    뭘 봐?

    Nhìn gì?

  117. 7:51

    저 사람들이 나 때려도 나는 안 말린다.

    Họ có đánh tao cũng không can đâu nha.

  118. 7:54

    알았어, 받을게. 앉아.

    Được rồi, tui lấy. Ngồi xuống đi.

  119. 7:57

    이제 싫어요. 딴 데 가자, 얘들아.

    Không thích nữa. Đi quán khác bây.

  120. 8:00

    지금 생각해 보면, 패거리 전체를 대신해 내가 다 부끄럽다.

    Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ thay cho cả đám.

  121. 8:04

    그때 우리는 그렇게 객기를 부리는 게 멋진 줄 알았다.

    Hồi đó tụi tôi tưởng ngông như vậy là oai.

  122. 8:10

    여섯 놈은 다른 술집으로 옮겼다.

    Sáu thằng kéo qua quán khác.

  123. 8:13

    응이아 아저씨, 술 다섯 병이랑 맛있는 거 좀 주세요.

    Cho năm xị với ít đồ ngon ngon chú Nghĩa ơi.

  124. 8:17

    퐁네 패거리냐? 오늘 아주 거하게 마시는구나.

    Tụi thằng Phong à? Ăn nhậu mạnh bây.

  125. 8:20

    여섯 놈은 저녁 여덟 시까지 홀짝홀짝 마셨다.

    Sáu thằng lai rai tới tám giờ tối.

  126. 8:23

    이제 갈까? 우리 엄마 난리 난다.

    Về chưa bây? Bà già tao chửi.

  127. 8:25

    그래, 가자. 응이아 아저씨, 계산이요.

    Ờ, thôi về. Chú Nghĩa, tính tiền con cái.

  128. 8:29

    너희 8만 동이다.

    Tụi bây hết tám chục.

  129. 8:31

    거스름돈은 됐어요. 다음에 와서 마저 마실게요.

    Khỏi thối. Lần sau tụi con uống bù.

  130. 8:34

    가게 문을 나서자마자 바오가 우뚝 멈춰 섰다.

    Vừa bước ra cửa quán, thằng Bảo khựng lại.

  131. 8:38

    야, 야, 젠장… 저거 민 아니냐?

    Ê ê, đậu má… Phải thằng Minh không?

  132. 8:41

    옆에 있는 여자는 누구야?

    Con nào kia?

  133. 8:43

    어… 젠장, 걔잖아… 그럼 퐁은?

    Ơ… Mẹ, con bé… Thế còn thằng Phong?

  134. 8:46

    퐁, 왜 그래?

    Sao thế Phong?

  135. 8:49

    브엉이 나를 바라보았다.

    Thằng Vương nhìn tôi.

  136. 8:52

    너 오래전부터 알고 있었지?

    Mày biết lâu rồi phải không?

  137. 8:56

    롱의 얼굴이 시뻘겋게 달아올랐다.

    Mặt thằng Long đỏ ké.

  138. 8:58

    녀석은 휴대폰을 꺼내 번호를 눌렀다.

    Nó rút điện thoại ra bấm.

  139. 9:01

    피 형, 응이아 아저씨네 가게로 사람 좀 보내 줘요. 빨리요.

    Anh Phi, cho người xuống chỗ quán chú Nghĩa, nhanh giùm em.

  140. 9:06

    얼마 지나지 않아 덩치 큰 놈 넷이 와서 민과 응옥의 머리채를 잡고 끌고 왔다.

    Không lâu sau, bốn thằng to con tới, nắm đầu thằng Minh và Ngọc lôi lại.

  141. 9:11

    롱은 응이아 아저씨네 가게에서 칼을 하나 들고 나와 내 손에 쥐여 주었다.

    Thằng Long xách con dao trong quán chú Nghĩa ra, dúi vào tay tôi.

  142. 9:16

    퐁, 찔러 버려. 둘한테 한 방씩. 죽으면 더 좋고.

    Phong, đâm chúng nó cho tao. Hai phát hai đứa. Chết càng tốt.

  143. 9:21

    네가 감옥 안 가게 해 줄게, 맹세한다.

    Tao cam đoan mày không ở tù, tao thề.

  144. 9:24

    나는 칼을 쥐었다. 손이 덜덜 떨렸다.

    Tôi cầm con dao. Tay tôi run run.

  145. 9:27

    솔직히 나는 싸움도 해 봤고, 칼에 베여도 봤고, 사람을 베어도 봤다.

    Thật sự, tôi từng đánh nhau, từng bị chém và từng chém người.

  146. 9:32

    하지만 그 순간, 눈물이 그렁그렁한 응옥의 눈을 보고,

    Nhưng lúc này, nhìn đôi mắt Ngọc rưng rưng,

  147. 9:35

    겁에 질려 웅크린 민을 보자 나는 할 수가 없었다.

    nhìn thằng Minh co ro sợ hãi, tôi không thể.

  148. 9:39

    내 마음을 다 바친 일 년의 사랑.

    Một năm tình yêu tôi dốc hết lòng hết dạ.

  149. 9:42

    십 년 넘게 붙어 다닌 친구.

    Thằng bạn hơn mười năm gắn bó.

  150. 9:45

    쨍그랑.

    Leng keng.

  151. 9:48

    칼이 시멘트 바닥에 떨어졌다.

    Con dao rơi xuống nền xi măng.

  152. 9:50

    됐어, 가자. 형님들, 제 친구들 놔주세요.

    Thôi, về tụi bây. Mấy anh thả bạn em đi.

  153. 9:54

    어, 퐁…

    Ơ, thằng Phong…

  154. 9:56

    야, 퐁…

    Ê, Phong…

  155. 9:59

    가자고 했잖아! 아무도 안 때려. 가자고!

    Tao bảo về! Không đánh gì cả. VỀ!

  156. 10:05

    내가 막았기 때문에 롱은 아무도 찌르지 못했다.

    Tôi cấm, nên thằng Long không đâm được ai.

  157. 10:08

    하지만 녀석은 그냥 넘어가지 않았다.

    Nhưng nó không bỏ qua.

  158. 10:11

    여러 해가 지나서야 나는 알게 됐다.

    Mãi nhiều năm sau tôi mới biết,

  159. 10:14

    롱이 응옥의 집까지 찾아가 부모님에게 말했다는 것을.

    nó đã tới tận nhà Ngọc nói chuyện với bố mẹ con bé,

  160. 10:18

    응옥과 민이 내 앞에 나타나기만 하면 죽여 버리겠다고.

    nói rằng chỉ cần Ngọc với thằng Minh xuất hiện trước mặt tôi, nó sẽ giết.

  161. 10:23

    그 뒤로 응옥은 우리를 피해 다녔다.

    Từ đó Ngọc tránh mặt tụi tôi.

  162. 10:26

    그날 밤 이후 민은 패거리를 떠났다. 피를 섞어 의형제를 맺을 때 부두목이었던 녀석이,

    Sau đêm đó, thằng Minh rời nhóm. Đứa từng làm lão phó lúc cắt máu ăn thề,

  163. 10:32

    칠 년 동안 우리와 한 상에 앉지 못했다.

    bảy năm trời không ngồi chung mâm với tụi tôi.

  164. 10:35

    그 일로 녀석은 많이 무너졌다.

    Chuyện ấy làm nó suy sụp nhiều.

  165. 10:38

    여러 해 뒤의 어느 술자리에서, 녀석은 내가 두고두고 잊지 못할 말을 했다.

    Nhiều năm sau, trong một bữa nhậu, nó nói một câu mà tôi nhớ mãi:

  166. 10:43

    나는 깨달았어. 우정이든 사랑이든 거짓말이 끼어들 자리는 없다는 걸.

    Tao nhận ra tình bạn và tình yêu không có chỗ cho sự lừa dối.

  167. 10:48

    평생 감히 잊지 못할 교훈이야.

    Đó là bài học mà cả đời tao cũng không bao giờ dám quên.

  168. 10:52

    또 다른 술자리에서 녀석은 후회한다고 했다.

    Một bữa nhậu khác, nó còn nói nó hối hận,

  169. 10:56

    그때 왜 응옥과의 일을 우리한테 솔직하게 말하지 않았는지.

    sao hồi đó không nói thật với tụi tôi chuyện nó với Ngọc.

  170. 11:00

    적어도 형제들과 칠 년이나 멀어지지는 않았을 텐데.

    Chí ít cũng không mất bảy năm xa anh em.

  171. 11:04

    녀석과 응옥은 결국 진짜 부부가 됐다.

    Nó với Ngọc rồi thành vợ chồng thật.

  172. 11:07

    친구들 틈에 앉아,

    Ngồi giữa đám bạn,

  173. 11:09

    응옥은 후회는 많지만 지금에 만족하니까 아무것도 바꾸고 싶지 않다고 했다.

    Ngọc bảo hối hận thì nhiều lắm, nhưng bằng lòng với hiện tại nên không muốn đổi gì.

  174. 11:16

    그리고 브엉은, 민이 응옥을 사랑하지 않았더라면,

    Còn thằng Vương nói rằng nếu thằng Minh không thương Ngọc,

  175. 11:20

    내가 찌를 만나지 못했을지도 모른다고 했다.

    thì chưa chắc tôi đã gặp được Chi.

  176. 11:23

    열다섯, 열여섯 살에 응이아 아저씨네 가게 앞에서 발치에 칼을 떨어뜨린 채 서 있던 나는,

    Hồi mười lăm, mười sáu tuổi, đứng trước quán chú Nghĩa với con dao dưới chân,

  177. 11:29

    그걸 몰랐다.

    tôi đâu biết điều đó.

  178. 11:32

    내가 아는 건 엄마 말이 옳았다는 것뿐이었다.

    Tôi chỉ biết lời mẹ dặn đã đúng.

  179. 11:34

    우리를 가장 아프게 하는 사람은, 우리가 가장 많이 사랑하는 사람이다.

    Kẻ làm ta đau nhất, chính là kẻ mà mình yêu thương nhiều nhất.

  180. 11:39

    번을 잃고, 응옥을 잃었다. 나는 동네로, 흥 영감을 따라다니는 밤으로 뛰어들었다.

    Mất Vân, rồi mất Ngọc. Tôi lao vào xóm, vào những đêm theo lão Hưng,

  181. 11:45

    그 세계 말고는 나에게 남은 자리가 없다는 듯이.

    như thể ngoài cái thế giới ấy ra chẳng còn chỗ nào cho tôi.