Chương 3 · Hai tiếng dầm mưa
Ngọc kéo Phong ra khỏi cái hố sau ngày mất Vân – rồi một chiều mưa, cửa sổ chat rung lên
Các phần
6:21Chương 1 · Lớp 9/4
Thằng quậy nhất lớp, cô lớp trưởng và Vân — truyện Việt, phụ đề tiếng Hàn
6:15Chương 2 · Gió và Mây
Phong là gió, Vân là mây — mối tình đầu và lời xin lỗi chưa kịp nói
Đang xem11:57Chương 3 · Hai tiếng dầm mưa
Ngọc kéo Phong ra khỏi cái hố sau ngày mất Vân – rồi một chiều mưa, cửa sổ chat rung lên
Transcript
- 0:05
2006년 6월.
Tháng 6, năm 2006.
- 0:07
롱 녀석네 패거리는 나를 묘지에서 끌어내긴 했지만,
Đám thằng Long lôi được tôi ra khỏi nghĩa trang,
- 0:11
내 마음속 구덩이에서까지 끌어내지는 못했다.
nhưng không lôi được tôi ra khỏi cái hố trong lòng.
- 0:15
나는 집에 돌아와 방에 틀어박혔고, 누가 불러도 대답하지 않았다.
Tôi về nhà, nằm lì trong phòng, ai gọi cũng không thưa.
- 0:22
내 방문을 가장 많이 두드린 사람은 뜻밖에도 응옥이었다.
Người gõ cửa nhiều nhất lại là Ngọc.
- 0:28
그 반장 계집애는 필기한 공책을 한 아름 안고 와서,
Con nhỏ lớp trưởng ôm theo một chồng tập chép bài,
- 0:32
내 책상 위, 번의 사진 바로 옆에 내려놓았다.
đặt lên bàn học, ngay cạnh tấm hình Vân.
- 0:35
응옥은 번 얘기는 꺼내지도 않았고, 기운 내라는 말도 하지 않았다.
Nó không nhắc gì tới em, cũng không khuyên tôi phải vui lên.
- 0:40
그저 10학년 입학시험이 몇 주 안 남았다고만 하고는,
Nó chỉ nói còn mấy tuần nữa là thi vào lớp 10,
- 0:44
거기 앉아 설명을 했다. 내가 펜을 집어 들 때까지 계속.
rồi ngồi đó giảng bài, giảng cho tới khi tôi chịu cầm cây bút lên mới thôi.
- 0:52
다음 날도 왔다. 그다음 날도 마찬가지였다.
Hôm sau nó lại tới. Hôm sau nữa cũng vậy.
- 0:58
시험이 끝나도 응옥은 계속 왔다.
Thi xong, nó vẫn tới.
- 1:01
쩨를 먹으러 가자고 조르다가, 아니면 바닷바람 쐬러 가자고 끌고 나갔고,
Hết rủ đi ăn chè thì rủ ra biển ngồi hóng gió,
- 1:07
입은 9학년 때 나를 맡았던 시절처럼 쉴 새가 없었다.
mồm vẫn nói không ngớt như hồi kèm tôi năm lớp 9.
- 1:11
나는 앉아서 듣기만 하고 아무 말도 안 했지만, 그렇다고 돌려보내지도 않았다.
Tôi ngồi nghe, chẳng nói gì, mà cũng chẳng đuổi về.
- 1:21
그게 언제부터였는지는 모르겠다. 다만 여름이 끝나 갈 무렵 어느 오후,
Tôi không biết là từ hôm nào. Chỉ nhớ có một buổi chiều cuối hè,
- 1:26
둘이 바닷가를 따라 걷다가 내 손이 응옥의 손을 잡고 있다는 걸 깨달았다.
hai đứa đi bộ dọc bờ biển, tôi nhận ra tay mình đang nắm tay nó.
- 1:34
나는 놓지 않았다.
Tôi không buông.
- 1:37
응옥도 손을 빼지 않았다.
Ngọc cũng không rút tay lại.
- 1:39
지금 돌이켜 보면, 그때 내가 번을 잊었다고는 감히 말하지 못하겠다.
Giờ nhìn lại, tôi không dám nói hồi đó tôi đã quên được Vân.
- 1:44
어쩌면 나는 물에 빠져 죽어 가던 놈이라, 손에 잡히는 건 뭐든 붙들었던 건지도 모른다.
Có lẽ tôi chỉ là một thằng sắp chết đuối, vớ được cái gì thì bám lấy cái đó.
- 1:50
하지만 응옥을 아낀 건 진심이었다.
Nhưng tôi thương Ngọc thật.
- 1:53
열다섯 살 사내놈에게 남아 있던 모든 것을 다해서.
Thương bằng tất cả những gì một thằng con trai mười lăm tuổi còn sót lại.
- 2:01
그때부터 우리 패거리는 놀러 다닐 때 여덟 명이 됐다.
Từ đó, nhóm tụi tôi đi chơi có tám người.
- 2:05
바오, 찌엔, 브엉, 롱, 티엔, 민, 그리고 나까지 일곱.
Bảo, Chiến, Vương, Long, Thiện, Minh, và tôi nữa là bảy.
- 2:09
일곱 놈은 유치원 꼬맹이 때부터 같이 놀았다. 딱지치기,
Bảy thằng chơi với nhau từ hồi mẫu giáo bé: sủi hình,
- 2:13
구슬치기, 고무줄 튕기기, 귀뚜라미 잡기, 물고기 싸움 붙이기.
bắn bi, búng thun, bắt dế, đá cá.
- 2:16
조금 크고 나서는 패싸움, 술, 담배.
Lớn lên chút thì đánh lộn, nhậu nhẹt, thuốc lá.
- 2:20
일곱 놈은 한 뱃속에서 나온 형제나 다름없었다.
Bảy thằng như bảy khúc ruột.
- 2:23
돈이 2천 동밖에 없을 때는 500동짜리 음료수 한 봉지를 사서,
Có lúc tiền chỉ còn hai ngàn, mua một bịch nước năm trăm,
- 2:27
넷이 빨대로 나눠 빨고, 셋은 얼음을 씹었다.
bốn thằng hút chung, ba thằng nhai đá.
- 2:30
일곱은 초등학교, 중학교, 고등학교를 같은 데서 다녔는데, 공부 잘하는 놈은 하나도 없었고,
Bảy đứa học chung trường cấp một, cấp hai, rồi cấp ba, không thằng nào học giỏi,
- 2:36
사고 치고 싸우는 데만 도가 텄다.
chỉ giỏi quậy phá với đánh nhau.
- 2:39
친구들은 우리를 "소 떼 무리"라고 불렀다.
Tụi bạn gọi cả nhóm là "trâu bò một lũ".
- 2:42
제일 부자는 롱네 집이었다.
Nhà thằng Long giàu nhất.
- 2:45
아버지는 꽤 이름난 변호사였고, 어머니는 도립 병원 심장내과 과장이었다.
Bố nó là luật sư khá nổi tiếng, mẹ nó là trưởng khoa tim mạch bệnh viện tỉnh.
- 2:51
패거리 중에 가난하고 아버지 없는 놈은 나 하나뿐이었다.
Cả nhóm chỉ có tôi là thằng nghèo, không cha.
- 2:55
롱은 멍청한 소리를 해 댔다. 찌엔은 한마디 할 때마다 속을 뒤집어 놨다.
Thằng Long nói chuyện ngáo đời. Thằng Chiến nói câu nào sốc gan câu đó.
- 3:00
민은 말을 글처럼 번드르르하게 했다.
Thằng Minh ăn nói văn vẻ.
- 3:03
티엔은 넉살이 좋았다.
Thằng Thiện ba lém.
- 3:06
바오는 그저 맞장구만 쳤다.
Thằng Bảo chỉ biết hùa theo.
- 3:08
그리고 브엉은 말수가 적어서 나랑 제일 닮았다.
Còn thằng Vương ít nói, giống tôi nhất.
- 3:14
응옥이 생기자 패거리는 나를 "큰형님"으로 추대했다. 이유는 내가 키가 제일 크다는 것이었다.
Có Ngọc, tôi được cả đám bầu làm "lão đại", lý do là tôi cao nhất.
- 3:20
응옥은 자연스레 "큰형수님"이 됐다.
Ngọc nghiễm nhiên thành "đại phu nhân".
- 3:23
응옥은 착하고 얌전했다.
Ngọc hiền, lại ngoan.
- 3:25
우리랑 다닐 때도 일곱 놈 모두를 꼬박꼬박 "오빠"라고 불렀다.
Đi với tụi tôi, nó vẫn xưng "anh" với cả bảy đứa.
- 3:29
성격이 재치 있고 발랄해서, 같이 다닐 때마다 즐거웠다.
Tính nó lém lỉnh, nên lần nào đi chung cũng vui.
- 3:33
어떤 날은 우르르 바다로 산책을 나갔고, 어떤 날은 우유를 마시러 가거나 축구를 했다.
Khi thì kéo nhau ra biển dạo, khi thì đi uống sữa, đá bóng.
- 3:38
그 시절 나는 내가 수면 위로 올라왔다고 생각했다.
Những ngày đó, tôi tưởng mình đã ngoi lên được.
- 3:45
그건 낮의 이야기였다.
Đó là ban ngày.
- 3:47
밤이 되면 나는 여전히 흥 영감 밑의 우두머리였는데, 그 얘기는 나중에 하겠다.
Còn ban đêm, tôi vẫn là thằng đầu sỏ dưới trướng lão Hưng, chuyện ấy tôi sẽ kể sau.
- 3:54
응옥은 묻지 않았다. 나도 말하지 않았다.
Ngọc không hỏi. Tôi cũng không kể.
- 4:00
2006년 9월.
Tháng 9, năm 2006.
- 4:02
10학년이 되자 응옥은 우리와 다른 학교에 다니게 됐다.
Lên lớp 10, Ngọc không học chung trường với tụi tôi.
- 4:06
새 학교, 새 친구들.
Trường mới, bạn mới.
- 4:09
응옥은 꾸미기 시작했고, 내 옷차림이 자기 "스타일"에 안 맞는다고 자주 타박했다.
Nó bắt đầu biết ăn diện, hay chê tôi ăn mặc không hợp "style" của nó.
- 4:15
나는 슬리퍼에 반바지, 티셔츠밖에 몰랐다.
Tôi thì chỉ biết dép lê, quần lửng, áo thun.
- 4:18
둘 사이에 다툼이 생기기 시작했다.
Hai đứa bắt đầu xích mích.
- 4:21
처음에는 사소한 일들이었다. 늦게 온다, 오토바이가 없다, "옷이 왜 이렇게 시커매".
Ban đầu là những chuyện nhỏ nhặt: đi trễ, không có xe máy, hay "đồ gì mà đen thế".
- 4:27
나중에는 며칠씩, 몇 주씩 토라져 지냈다.
Về sau là những lần giận nhau vài ngày, vài tuần.
- 4:31
야후 메신저 답장은 건성으로, 뚝뚝 끊겼다.
Những câu trả lời Yahoo hời hợt, cụt lủn.
- 4:37
민도 더는 패거리와 어울려 다니지 않았다.
Thằng Minh cũng không còn đi chơi với nhóm.
- 4:41
민 자식 요즘 무슨 도련님 같다니까.
Thằng Minh dạo này như công tử á mày.
- 4:44
빗질에 멋 부리는 꼴이 돼지 같아.
Chải chuốt, điệu như lợn.
- 4:47
그러게, 망할 놈.
Ờ, cái định mệnh nó.
- 4:49
놀자고 찾아갔더니 자기 아버지 오토바이를 빌려서 어딜 가더라고.
Tao qua rủ, thấy nó mượn xe ông già nó đi đâu đó.
- 4:53
물어봐도 대답도 안 해.
Tao hỏi, nó không thèm trả lời.
- 4:56
걔가 그 정도야? 오후에 걔네 집 들르자.
Nó tệ vậy à? Chiều tạt qua nhà nó.
- 4:59
패 버려!
Đập!
- 5:01
내버려 둬.
Kệ nó đi.
- 5:04
걔 일이야, 상관 마.
Chuyện của nó, mặc.
- 5:10
2007년 6월.
Tháng 6, năm 2007.
- 5:12
여섯 놈이 옆 동네와 축구를 하러 갔다. 오후에 돌아오는 길에 나는 민을 만났다.
Sáu thằng đi đá bóng với xóm bên. Chiều về, tôi gặp thằng Minh.
- 5:17
락아, 게임 한판 할래?
Cu lác, game không?
- 5:20
어, 어, 타. 내가 태워 줄게.
Ờ ờ, lên xe tao đèo.
- 5:23
오늘은 오토바이까지 타고 다니네, 폼 나는데.
Nay đi xe máy luôn, oách ghê.
- 5:25
아버지한테 빌린 거야, 인마.
Xe mượn ông già mày ơi.
- 5:28
옷도 잘 빼입고 향수까지 뿌렸네.
Mặc đồ đẹp vậy, xịt nước hoa luôn.
- 5:31
여자 만나러 가는 거지 뭐.
Đi với gái chứ gì nữa.
- 5:33
여자는 무슨 여자.
Gái gì mà gái.
- 5:36
PC방에 들어가서 둘이 나란히 컴퓨터 앞에 앉았다.
Vô quán, hai đứa ngồi hai máy cạnh nhau.
- 5:39
한 십오 분쯤 지났을까.
Được chừng mười lăm phút.
- 5:42
나 화장실 좀.
Tao đi vệ sinh xíu.
- 5:45
나는 하프라이프를 하고 있었다. 녀석의 컴퓨터를 힐끗 보니 채팅 창이 흔들렸다. BUZZ!!!
Tôi đang chơi Half-Life. Liếc qua máy nó thì thấy cửa sổ chat rung lên. BUZZ!!!
- 5:51
Gauconyeuanh1591: 자기야, 오후에 나 쇼핑 좀 데려가 줘 :*
Gauconyeuanh1591: chồng ơi, chiều chở vợ đi mua đồ nhé :*
- 5:55
나는 얼어붙었다. 내 눈을 믿을 수가 없었다.
Tôi sững sờ. Không tin vào mắt mình.
- 5:58
다시 한번 자세히 들여다보았고, 이내 눈앞이 흐려졌다.
Nhìn kỹ lại một lần nữa, rồi mắt tôi nhòe đi.
- 6:02
나는 녀석의 휴대폰을 집어 들고 응옥의 번호를 눌렀다.
Tôi cầm điện thoại nó lên, bấm số của Ngọc.
- 6:06
화면에 글자가 떴다. "여보 N".
Màn hình hiện lên hai chữ: "Vợ N".
- 6:13
밖에는 비가 억수같이 쏟아지고 있었다.
Ngoài trời đang mưa to.
- 6:18
나는 일어나 계산을 하고, 터덜터덜 집으로 걸었다.
Tôi đứng dậy tính tiền, lững thững đi về.
- 6:22
두 시간 동안 비를 맞으며.
Hai tiếng đồng hồ dầm mưa.
- 6:25
그날 밤 나는 고열에 시달리다 병원에 입원했다.
Tối đó tôi sốt cao, phải nhập viện.
- 6:31
퐁, 너 요즘 왜 그래? 얼굴이 꼭 똥 덩어리 같다.
Dạo này sao thế Phong? Mặt mày như cục phân ấy.
- 6:35
젠장, 찌엔 너는 왜 그렇게 속 뒤집는 소리만 골라서 하냐?
Đậu má, sao mày thích nói sốc gan thế thằng Chiến?
- 6:39
그 주둥이 좀 닥쳐 봐.
Câm mõm mày lại tao xem.
- 6:42
그래, 찌엔 진짜 속 뒤집어.
Ờ, thằng Chiến sốc thiệt.
- 6:44
너도 만만치 않아, 맞장구 전문가.
Mày thì ít gì, thằng hùa theo.
- 6:47
녀석들은 길모퉁이 한쪽에서 시끄럽게 욕지거리를 주고받았다. 브엉이 말없이 내 어깨를 둘러메고 걸었다.
Tụi nó cứ chửi nhau inh ỏi một góc phố. Thằng Vương lẳng lặng vác vai tôi đi.
- 6:53
쳇, 여자는 피곤해. 우리랑 가자.
Xầy, con gái mệt lắm. Đi với tụi tao.
- 6:56
오늘 우리 엄마가 돈 줬다.
Nay bà già cho tiền.
- 6:59
오늘 술은 내가 다 쏜다아아!
Hôm nay đi nhậu, tao lo hếtttt!
- 7:01
그럼 뭘 기다려, 당장 가자.
Thế thì chờ chi nữa, triển ngay.
- 7:04
퐁이 쏜다는 소리만 들으면 신나 한다니까.
Thằng Phong, nghe bao là sướng.
- 7:07
넌 입 다물어.
Mày im.
- 7:12
여섯 놈은 단골 술집에 닻을 내렸다.
Sáu thằng cập bến một quán nhậu quen.
- 7:16
하이 아줌마, 술 다섯 병이랑 맛있는 안주 좀 줘요.
Cho năm xị với mồi ngon ngon bà Hai ơi.
- 7:19
너희 돈은 있고 큰소리야?
Tụi bây có tiền không mà mạnh mồm?
- 7:22
돈부터 보여 봐.
Đưa tiền tao xem.
- 7:24
지금 팔 거예요, 말 거예요? 안 팔면 딴 데 가고요.
Giờ có bán không, tui đi quán khác.
- 7:27
장사를 뭐 이렇게 해.
Bán buôn kiểu gì thế.
- 7:30
너 어른한테 말버릇이 그게 뭐야?
Mày nói chuyện với người lớn thế hả?
- 7:33
내가 이 가게 홀랑 태워 버려도 내일 아무렇지도 않게 술 마시러 다닐 수 있다는 거 믿어요, 안 믿어요?
Bà có tin tui đốt trụi quán bà mà mai tui vẫn đi nhậu bình thường không?
- 7:39
돈 좋아하면 기어 와서 세 보시든가.
Thích tiền không, bơi vào mà đếm.
- 7:44
녀석은 10만 동짜리 지폐 세 장을 탁자에 내리쳤다. 가게 안 사람들이 전부 고개를 돌려 쳐다보았다.
Nó đập ba tờ trăm nghìn lên bàn. Cả quán ai cũng quay lại nhìn.
- 7:48
뭘 봐?
Nhìn gì?
- 7:51
저 사람들이 나 때려도 나는 안 말린다.
Họ có đánh tao cũng không can đâu nha.
- 7:54
알았어, 받을게. 앉아.
Được rồi, tui lấy. Ngồi xuống đi.
- 7:57
이제 싫어요. 딴 데 가자, 얘들아.
Không thích nữa. Đi quán khác bây.
- 8:00
지금 생각해 보면, 패거리 전체를 대신해 내가 다 부끄럽다.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ thay cho cả đám.
- 8:04
그때 우리는 그렇게 객기를 부리는 게 멋진 줄 알았다.
Hồi đó tụi tôi tưởng ngông như vậy là oai.
- 8:10
여섯 놈은 다른 술집으로 옮겼다.
Sáu thằng kéo qua quán khác.
- 8:13
응이아 아저씨, 술 다섯 병이랑 맛있는 거 좀 주세요.
Cho năm xị với ít đồ ngon ngon chú Nghĩa ơi.
- 8:17
퐁네 패거리냐? 오늘 아주 거하게 마시는구나.
Tụi thằng Phong à? Ăn nhậu mạnh bây.
- 8:20
여섯 놈은 저녁 여덟 시까지 홀짝홀짝 마셨다.
Sáu thằng lai rai tới tám giờ tối.
- 8:23
이제 갈까? 우리 엄마 난리 난다.
Về chưa bây? Bà già tao chửi.
- 8:25
그래, 가자. 응이아 아저씨, 계산이요.
Ờ, thôi về. Chú Nghĩa, tính tiền con cái.
- 8:29
너희 8만 동이다.
Tụi bây hết tám chục.
- 8:31
거스름돈은 됐어요. 다음에 와서 마저 마실게요.
Khỏi thối. Lần sau tụi con uống bù.
- 8:34
가게 문을 나서자마자 바오가 우뚝 멈춰 섰다.
Vừa bước ra cửa quán, thằng Bảo khựng lại.
- 8:38
야, 야, 젠장… 저거 민 아니냐?
Ê ê, đậu má… Phải thằng Minh không?
- 8:41
옆에 있는 여자는 누구야?
Con nào kia?
- 8:43
어… 젠장, 걔잖아… 그럼 퐁은?
Ơ… Mẹ, con bé… Thế còn thằng Phong?
- 8:46
퐁, 왜 그래?
Sao thế Phong?
- 8:49
브엉이 나를 바라보았다.
Thằng Vương nhìn tôi.
- 8:52
너 오래전부터 알고 있었지?
Mày biết lâu rồi phải không?
- 8:56
롱의 얼굴이 시뻘겋게 달아올랐다.
Mặt thằng Long đỏ ké.
- 8:58
녀석은 휴대폰을 꺼내 번호를 눌렀다.
Nó rút điện thoại ra bấm.
- 9:01
피 형, 응이아 아저씨네 가게로 사람 좀 보내 줘요. 빨리요.
Anh Phi, cho người xuống chỗ quán chú Nghĩa, nhanh giùm em.
- 9:06
얼마 지나지 않아 덩치 큰 놈 넷이 와서 민과 응옥의 머리채를 잡고 끌고 왔다.
Không lâu sau, bốn thằng to con tới, nắm đầu thằng Minh và Ngọc lôi lại.
- 9:11
롱은 응이아 아저씨네 가게에서 칼을 하나 들고 나와 내 손에 쥐여 주었다.
Thằng Long xách con dao trong quán chú Nghĩa ra, dúi vào tay tôi.
- 9:16
퐁, 찔러 버려. 둘한테 한 방씩. 죽으면 더 좋고.
Phong, đâm chúng nó cho tao. Hai phát hai đứa. Chết càng tốt.
- 9:21
네가 감옥 안 가게 해 줄게, 맹세한다.
Tao cam đoan mày không ở tù, tao thề.
- 9:24
나는 칼을 쥐었다. 손이 덜덜 떨렸다.
Tôi cầm con dao. Tay tôi run run.
- 9:27
솔직히 나는 싸움도 해 봤고, 칼에 베여도 봤고, 사람을 베어도 봤다.
Thật sự, tôi từng đánh nhau, từng bị chém và từng chém người.
- 9:32
하지만 그 순간, 눈물이 그렁그렁한 응옥의 눈을 보고,
Nhưng lúc này, nhìn đôi mắt Ngọc rưng rưng,
- 9:35
겁에 질려 웅크린 민을 보자 나는 할 수가 없었다.
nhìn thằng Minh co ro sợ hãi, tôi không thể.
- 9:39
내 마음을 다 바친 일 년의 사랑.
Một năm tình yêu tôi dốc hết lòng hết dạ.
- 9:42
십 년 넘게 붙어 다닌 친구.
Thằng bạn hơn mười năm gắn bó.
- 9:45
쨍그랑.
Leng keng.
- 9:48
칼이 시멘트 바닥에 떨어졌다.
Con dao rơi xuống nền xi măng.
- 9:50
됐어, 가자. 형님들, 제 친구들 놔주세요.
Thôi, về tụi bây. Mấy anh thả bạn em đi.
- 9:54
어, 퐁…
Ơ, thằng Phong…
- 9:56
야, 퐁…
Ê, Phong…
- 9:59
가자고 했잖아! 아무도 안 때려. 가자고!
Tao bảo về! Không đánh gì cả. VỀ!
- 10:05
내가 막았기 때문에 롱은 아무도 찌르지 못했다.
Tôi cấm, nên thằng Long không đâm được ai.
- 10:08
하지만 녀석은 그냥 넘어가지 않았다.
Nhưng nó không bỏ qua.
- 10:11
여러 해가 지나서야 나는 알게 됐다.
Mãi nhiều năm sau tôi mới biết,
- 10:14
롱이 응옥의 집까지 찾아가 부모님에게 말했다는 것을.
nó đã tới tận nhà Ngọc nói chuyện với bố mẹ con bé,
- 10:18
응옥과 민이 내 앞에 나타나기만 하면 죽여 버리겠다고.
nói rằng chỉ cần Ngọc với thằng Minh xuất hiện trước mặt tôi, nó sẽ giết.
- 10:23
그 뒤로 응옥은 우리를 피해 다녔다.
Từ đó Ngọc tránh mặt tụi tôi.
- 10:26
그날 밤 이후 민은 패거리를 떠났다. 피를 섞어 의형제를 맺을 때 부두목이었던 녀석이,
Sau đêm đó, thằng Minh rời nhóm. Đứa từng làm lão phó lúc cắt máu ăn thề,
- 10:32
칠 년 동안 우리와 한 상에 앉지 못했다.
bảy năm trời không ngồi chung mâm với tụi tôi.
- 10:35
그 일로 녀석은 많이 무너졌다.
Chuyện ấy làm nó suy sụp nhiều.
- 10:38
여러 해 뒤의 어느 술자리에서, 녀석은 내가 두고두고 잊지 못할 말을 했다.
Nhiều năm sau, trong một bữa nhậu, nó nói một câu mà tôi nhớ mãi:
- 10:43
나는 깨달았어. 우정이든 사랑이든 거짓말이 끼어들 자리는 없다는 걸.
Tao nhận ra tình bạn và tình yêu không có chỗ cho sự lừa dối.
- 10:48
평생 감히 잊지 못할 교훈이야.
Đó là bài học mà cả đời tao cũng không bao giờ dám quên.
- 10:52
또 다른 술자리에서 녀석은 후회한다고 했다.
Một bữa nhậu khác, nó còn nói nó hối hận,
- 10:56
그때 왜 응옥과의 일을 우리한테 솔직하게 말하지 않았는지.
sao hồi đó không nói thật với tụi tôi chuyện nó với Ngọc.
- 11:00
적어도 형제들과 칠 년이나 멀어지지는 않았을 텐데.
Chí ít cũng không mất bảy năm xa anh em.
- 11:04
녀석과 응옥은 결국 진짜 부부가 됐다.
Nó với Ngọc rồi thành vợ chồng thật.
- 11:07
친구들 틈에 앉아,
Ngồi giữa đám bạn,
- 11:09
응옥은 후회는 많지만 지금에 만족하니까 아무것도 바꾸고 싶지 않다고 했다.
Ngọc bảo hối hận thì nhiều lắm, nhưng bằng lòng với hiện tại nên không muốn đổi gì.
- 11:16
그리고 브엉은, 민이 응옥을 사랑하지 않았더라면,
Còn thằng Vương nói rằng nếu thằng Minh không thương Ngọc,
- 11:20
내가 찌를 만나지 못했을지도 모른다고 했다.
thì chưa chắc tôi đã gặp được Chi.
- 11:23
열다섯, 열여섯 살에 응이아 아저씨네 가게 앞에서 발치에 칼을 떨어뜨린 채 서 있던 나는,
Hồi mười lăm, mười sáu tuổi, đứng trước quán chú Nghĩa với con dao dưới chân,
- 11:29
그걸 몰랐다.
tôi đâu biết điều đó.
- 11:32
내가 아는 건 엄마 말이 옳았다는 것뿐이었다.
Tôi chỉ biết lời mẹ dặn đã đúng.
- 11:34
우리를 가장 아프게 하는 사람은, 우리가 가장 많이 사랑하는 사람이다.
Kẻ làm ta đau nhất, chính là kẻ mà mình yêu thương nhiều nhất.
- 11:39
번을 잃고, 응옥을 잃었다. 나는 동네로, 흥 영감을 따라다니는 밤으로 뛰어들었다.
Mất Vân, rồi mất Ngọc. Tôi lao vào xóm, vào những đêm theo lão Hưng,
- 11:45
그 세계 말고는 나에게 남은 자리가 없다는 듯이.
như thể ngoài cái thế giới ấy ra chẳng còn chỗ nào cho tôi.