Quyển 1 · Chương 10
Đám cưới không ai đến
10 phút đọc · trang 11/242
Tháng 10, năm 2009
Thằng Minh Hoà rút lui. Mẹ Chi thì không.
Tôi vẫn qua nhà Chi mỗi ngày, vẫn đánh cờ với bố, vẫn bồng cô ấy lên phòng. Mẹ cô ấy vẫn đáp lời chào của tôi bằng một tiếng "ừ" cụt lủn. Trong mắt bà, tôi vẫn là thằng cầm đầu đám du côn, xăm trổ, ở cái xóm gần khu nước đá. Bà không sai. Chỉ là bà chưa thấy được tôi đang cố bỏ lại cái xóm ấy sau lưng.
Trường đại học gọi điện về hỏi han. Chi đỗ cao như vậy, người ta hỏi sao chưa thấy làm thủ tục nhập học. Cô ấy từ chối.
— Em đi học đi. — Tôi nói. — Em thích học mà. Em học như quái vật, cả đám chỉ thua mỗi thằng Vương.
Cô ấy lắc đầu.
— Em học đại học thì sẽ rất tốn thời gian. Em biết là ai cũng muốn em học. Nhưng như vậy đồng nghĩa với việc ước mơ có một gia đình của em sẽ trễ đi bốn năm. Mẹ nói em phải suy nghĩ thật kỹ. Nếu em và anh cùng đi học tiếp, mình sẽ không ở cạnh nhau được, vì em đi lại khó khăn, trường thì xa lắm. Em sẽ phải ở ký túc xá hoặc thuê phòng. Em và anh sẽ xa nhau hơn rất nhiều, và có thể sẽ không được hạnh phúc.
— Nhưng mà…
— Em quyết định rồi. Em sẽ không đi học.
Cô ấy nói chậm, rõ từng chữ, cái cách mà sau này tôi biết là không ai lay chuyển nổi. Tôi nói thêm mấy lần nữa, lần nào cô ấy cũng lắc đầu, kiên quyết. Thế là tôi thôi, không ép.
Hồi đó tôi chỉ nghĩ muốn cho cô ấy đi học vì cô ấy thích học. Còn cô ấy thì đã tính xa hơn tôi nhiều. Mười năm sau, một buổi chiều đẩy xe đi dạo, cô ấy mới nói với tôi rằng cô ấy biết mình có thể làm được bất cứ việc gì, chỉ cần tập trung vào nó. Nhưng cô ấy đã chọn làm vợ, làm mẹ. Cô ấy sợ nếu mình tham lam, mình sẽ chẳng còn gì cả.
— Như thế có bất công với em không? — Tôi hỏi.
— Đây là điều em lựa chọn. Là bất công với anh, nhưng công bằng với một người phụ nữ như em. Anh thấy bất công vì anh yêu em. Còn em thấy công bằng, vì em yêu anh và con.
Cô gái gấp tờ giấy báo đại học cất đi năm đó, đã chọn tôi từ trước khi tôi kịp hiểu mình được chọn.
Cuối năm 2009
Tôi muốn cưới Chi.
Nói ra thì nghe như chuyện con nít. Thằng con trai mười tám tuổi, vừa lên cao đẳng, trong túi chẳng có mấy đồng, sau lưng là cả một cái quá khứ mà mẹ người yêu nhìn vào chỉ thấy dao với máu. Vậy mà tôi muốn cưới. Tôi sợ chần chừ thêm ngày nào, mẹ cô ấy lại tìm ra một thằng Minh Hoà khác.
Mẹ Chi không đồng ý. Bà không la, không mắng, chỉ lặng lẽ không đồng ý, kiểu không đồng ý mà người ta biết là chẳng có cách nào lay chuyển.
Rồi một hôm tôi qua, thấy trên trán Chi có một vết trầy. Đỏ au, rướm rướm, lấp ló dưới mấy sợi tóc mái.
— Trán em sao vậy?
— Dạ… em bị té. Em đập đầu xuống sàn nhà.
— Té sao mà té tới vầy? Sao không gọi anh?
— Em không sao mà. Chỉ trầy một chút thôi.
Cô ấy cười, kéo tóc mái xuống che lại. Tôi càu nhàu một hồi, dặn từ giờ muốn đi đâu trong nhà cũng phải gọi người. Cô ấy dạ dạ vâng vâng.
Tôi tin. Tôi tin ngay, chẳng nghi ngờ gì.
Đêm hôm sau, mẹ Chi gọi tôi sang. Bà ngồi ở bàn nước, bố ngồi bên cạnh. Bà nhìn tôi rất lâu, rồi nói bà đồng ý cho hai đứa cưới nhau.
Tôi mừng tới mức không nghĩ được gì nữa. Không hỏi tại sao. Không thắc mắc vì sao một người cứng rắn như bà lại đổi ý chỉ sau một đêm.
Mãi mười năm sau tôi mới biết.
Tết năm 2019, con Ly đứng ở cửa phòng, tay nắm cái tay nắm cửa, xoay lưng về phía tôi, buông một câu:
— Anh nghĩ mẹ em tại sao lại đồng ý cho chị và anh kết hôn? Nhớ lại trước khi mẹ em đồng ý thì trán chị bị trầy. Có lẽ chị nói với anh là té đụng đầu vào sàn nhà nhỉ.
Rồi nó đi ra, đóng cửa lại.
Ít lâu sau, chính Chi kể cho tôi nghe, trong một buổi chiều Valentine, giọng đều đều như kể chuyện của người khác. Mẹ cô ấy từng nói với cô ấy rằng đời người con gái chỉ có một, phải biết gửi gắm cho người hiểu mình. Mẹ từng ép cô ấy phải yêu thương một người khác. Cô ấy nói với mẹ rằng cô ấy chọn tôi, có chết cũng không yêu ai khác. Rồi cô ấy quỳ xuống trước mặt mẹ, đập đầu xuống sàn nhà.
Cô gái ngồi xe lăn ấy đã rời khỏi xe, quỳ xuống bằng đôi chân đã hỏng từ thuở nhỏ, cúi rạp người xuống sàn gạch lạnh, đập đầu tới trầy trán, chảy máu. Không phải vì cô ấy không sợ đau. Mà vì cô ấy muốn mẹ nhìn thấy tình cảm của mình. Từ nhỏ tới lớn, cô ấy chưa bao giờ làm mẹ buồn. Đó là lần đầu tiên, và là lần duy nhất.
Mẹ cô ấy nói với cô ấy rằng: con giống mẹ, biết từ bỏ tất cả để yêu thương. Ngày xưa, "cô út" đẹp nhất làng cũng đã bỏ cả nhà cửa để theo một chàng trai nghèo, thân cô thế cô. Bà biết con gái mình rồi sẽ đi con đường đó. Bà chỉ cố làm cái việc mà bản năng một người mẹ bắt bà phải làm: đứng chắn trước con mình, cho tới khi không thể chắn được nữa.
Còn tôi, đêm đó, tôi đã ngồi trước mặt bà, cười như thằng khờ, mà không hề biết cái giá cho nụ cười ấy là vết trầy trên trán người tôi yêu.
Đêm đó, nói đồng ý xong, mẹ Chi nhìn thẳng vào tôi.
— Nhưng cậu phải hứa với hai bác.
— Dạ, con xin nghe.
— Không được để con bé khổ. Và cả đời này, không bao giờ được đánh nó.
Tôi nhìn sang bố. Ông không nói gì, chỉ gật đầu thật khẽ.
— Con hứa. Con không để Chi khổ. Con không bao giờ đánh vợ.
Lời hứa đó, tôi giữ tới bây giờ. Có những năm nghèo tới mức phải ăn mì gói qua ngày, có những lúc áp lực tới mức tôi gắt lên với cô ấy, nhưng chưa một lần tôi giơ tay lên với vợ mình. Làm đàn ông mà có mỗi cái lời hứa cũng không giữ nổi, thì làm được cái gì nữa.
Đám cưới tôi với Chi là cái đám cưới nhỏ nhất mà tôi từng thấy.
Rước dâu lèo tèo vài chiếc xe cho có. Mấy bàn tiệc, ngồi toàn bạn bè thân thiết. Họ hàng bên tôi vốn đã ít, mà người đến còn ít hơn, vì họ coi thường tôi lấy một đứa tàn tật. Họ hàng bên Chi đến chưa tới mười người. Họ không coi thường cô ấy tàn tật. Họ coi thường nhà cô ấy nghèo. Chỗ tôi, đám cưới quan trọng là có mặt, ít ai để ý chuyện đi tiền ít hay nhiều. Vậy mà người ta cũng chẳng buồn đến.
Bên tôi có mẹ, và có cả ba tôi. Ông về, ngồi lặng lẽ ở một góc bàn, uống ly rượu mừng rồi xoa đầu tôi một cái. Hai cha con chẳng nói được với nhau mấy câu.
Bên cô ấy có bố, có mẹ. Và có đám thằng Long.
Thằng Long, thằng Bảo, thằng Chiến, thằng Vương… đứa nào cũng mặc áo sơ mi, chải tóc láng mướt, đi tới đi lui lo từ cái bàn tới cái ghế, như thể đám cưới của chính tụi nó. Thằng Chiến đứng cửa đón khách, mà khách thì chẳng có mấy, nó đứng tới mỏi chân rồi bỏ vô ăn trước 😆. Thằng Thiện thì ngồi lì một góc, chẳng nói câu nào, ai mời gì uống nấy, tới lúc nâng ly thì đứng dậy cụng mạnh tới mức bia sóng ra cả bàn. Đám cưới vắng khách, nhưng đám anh em của tôi, trừ thằng Minh, thì không thiếu một đứa.
Mẹ tôi gọi Chi lại, đặt vào tay cô ấy một cái hộp nhỏ. Bên trong là một bộ trang sức bạc: lắc tay, vòng chân, vòng cổ, một đôi bông tai. Không phải vàng, chẳng đáng bao nhiêu tiền. Đó là đồ tổ truyền bên ngoại tôi, bà ngoại trao cho mẹ, dặn khi tôi lấy vợ thì trao hết cho vợ tôi để truyền xuống đời sau. Mẹ nói với cô ấy rằng từ giờ, cô ấy là vợ tôi, là cháu của bà ngoại tôi, là con dâu của mẹ. Chi cầm cái hộp, cúi đầu thật thấp, mắt đỏ hoe.
Cô dâu của tôi ngồi xe lăn, mặc áo cưới, cười suốt buổi. Cô ấy không nói gì. Nhưng tôi biết cô ấy buồn. Có cô dâu nào lại muốn đám cưới của mình vắng tanh như vậy đâu.
Cưới xong, trong túi chẳng còn một xu.
Không có nệm. Hai vợ chồng nằm chiếu, sáng dậy lằn chiếu in lên cả da. Chi da mỏng, nằm đau, phải lót thêm cái chăn bên dưới mới ngủ được. Cô ấy không than một câu. Từ đêm đó tới giờ, trừ mấy tháng tôi nằm viện bên Mỹ, chưa đêm nào chúng tôi ngủ xa nhau.
Cô ấy nhớ mẹ lắm. Những ngày đầu ở với tôi, cô ấy chưa quen, khó khăn đủ thứ. Tôi chở cô ấy về thăm nhà ngoại thường xuyên, chở đi chở về, cho tới khi nhà mới thành nhà.
Nhiều năm sau, có lần nằm cạnh nhau, tôi nhắc lại chuyện đám cưới.
— Lúc đó mình ít bạn bè, chả ai thèm đi. Họ hàng anh cũng khinh thường anh với em. Chắc em tủi thân lắm, đúng không?
— Dạ, em có buồn một chút. Nhưng em biết là lỗi của em. Em tàn tật nên mọi người xem thường anh.
— Anh thì bỏ đi. Anh vứt sĩ diện với tự trọng đi từ lâu lắm rồi. Sống với em là anh bất chấp hết. Với anh, không có gì quan trọng hơn gia đình nhỏ của mình. Đám cưới mình miễn đông đủ đám thằng Long, cha mẹ anh, cha mẹ em là được rồi. Anh không cần gì nữa.
Cô ấy cười. Nhưng tôi biết, mỗi lần dẫn cô ấy đi ăn cưới người ta, nhìn rạp cưới đông nghịt, nhìn cô dâu bước đi bằng hai chân, ánh mắt cô ấy lại thoáng buồn. Cô ấy nhớ chuyện cũ. Chuyện cái đám cưới lèo tèo vài bàn ấy, tới giờ vẫn là món nợ tôi mang với cô ấy. Nói ra thì làm được gì, chẳng lẽ tổ chức thêm một cái đám cưới nữa.
Nên tôi chỉ tự thề với mình một điều. Hai vợ chồng tôi sẽ sống sao cho người ta phải nhìn vào mà ghen tị. Khổ mấy cũng được, nhưng phải sống vui. Để không ai còn dám nghĩ rằng cưới một người tàn tật là cưới về một gánh nặng.
Mười năm sau, có những người quen của nhà vợ, ngày cưới chẳng thèm ló mặt, lại ngồi trong căn nhà mới của bố mẹ vợ tôi, khen vợ chồng tôi giỏi giang, khéo tích góp, rồi hỏi cưới nhau lâu chưa. Tôi ngồi đó, nghe mà điên gan. Còn vợ tôi chỉ mỉm cười. Cô ấy không cần ai phải coi trọng mình. Cô ấy chỉ cần gia đình mình vui vẻ.
Cũng trong buổi chiều Valentine mười năm sau ấy, sau khi kể chuyện quỳ trước mặt mẹ, Chi nhắc lại một câu bố cô ấy từng nói. Bố nói rằng nếu ai đó yêu mình bằng cả sinh mạng của họ, thì mình phải trả lại cho họ cả cuộc đời mình. Mẹ đã từ bỏ gia đình để được ở bên bố, và bố đã trả lại cho mẹ cả cuộc đời.
Cô ấy nói tôi đã thay đổi, đã từ bỏ tất cả, mặc cho người ta trêu chọc khi tôi yêu rồi cưới một người như cô ấy. Vì thế cô ấy trả lại cho tôi cả cuộc đời. Cô ấy đã thề với trời đất sẽ ở bên tôi cho tới khi chết đi.
Tôi ngồi nghe mà không nói được câu nào.
Tôi đâu có từ bỏ được gì nhiều. Một cái ghế. Một cái xóm. Mấy cái danh xưng chẳng ra gì. Còn cô ấy, cô ấy đã đặt xuống một tấm giấy báo đỗ đại học gần thủ khoa, một tương lai mà tôi không dám mơ, và cái trán của mình, trên nền gạch lạnh, trước mặt người mẹ cô ấy thương nhất đời.
Người trả cả cuộc đời, ngay từ đầu, là cô ấy.