Chương 4 · Dưới trướng lão Hưng (phần 1)
Xóm trên xóm dưới, bảy đứa kết nghĩa dưới gốc xoài – rồi lão Hưng ra tù
Các phần
6:21Chương 1 · Lớp 9/4
Thằng quậy nhất lớp, cô lớp trưởng và Vân — truyện Việt, phụ đề tiếng Hàn
6:20Chương 2 · Gió và Mây
Phong là gió, Vân là mây — mối tình đầu và lời xin lỗi chưa kịp nói
11:57Chương 3 · Hai tiếng dầm mưa
Ngọc kéo Phong ra khỏi cái hố sau ngày mất Vân – rồi một chiều mưa, cửa sổ chat rung lên
Đang xem12:46Chương 4 · Dưới trướng lão Hưng (phần 1)
Xóm trên xóm dưới, bảy đứa kết nghĩa dưới gốc xoài – rồi lão Hưng ra tù
Transcript
- 0:05
2003 – 2008년.
Năm 2003 – 2008.
- 0:07
우리 집 꼬맹이들은 심심하면 아빠 머리를 짓누르고 흉터를 센다.
Đám nhỏ nhà tôi rảnh rỗi hay đè đầu ba ra đếm sẹo.
- 0:11
마흔 개가 넘는다. 가로로 난 것도 있고 세로로 난 것도 있다.
Hơn bốn chục cái, ngang có dọc có,
- 0:14
롱 녀석네 패거리와 흥 영감이 개발새발 꿰매 놓은 바늘 자국은 빼고도 그렇다.
chưa kể mấy đường chỉ may xấu như chó của đám thằng Long với lão Hưng.
- 0:22
아이들이 이 흉터는 어디서 생겼냐고 물으면, 나는 늘 아빠가 오토바이에서 넘어졌다, 나무에 올라가다 그랬다고 한다.
Tụi nhỏ hỏi sẹo này ở đâu ra, tôi toàn nói ba té xe, ba leo cây.
- 0:27
한번은 아빠 어릴 적 이야기를 해 달라고 졸라서, 축구하고 강에서 멱 감고 물고기 잡은 이야기를 해 주었다.
Có lần tụi nó đòi nghe chuyện ba hồi nhỏ, tôi kể chuyện đá banh, tắm sông, bắt cá.
- 0:33
흥 영감 밑에 들어갔던 대목은 몽땅 뺐다.
Tôi bỏ hết đoạn đầu quân cho lão Hưng.
- 0:36
설마 자식한테, 너희 아빠가 예전에 사람 팔다리를 자르고,
Chẳng lẽ lại kể với con rằng cha nó từng chặt tay chặt chân người ta,
- 0:42
손가락을 사탕수수 자르듯 잘랐다고 말할 수야 없지 않은가?
chặt ngón tay người ta như chặt mía?
- 0:45
나는 두 딸에게 약속했다. 너희 열여덟 살 생일이 되면 아빠가 전부 얘기해 주겠다고.
Tôi đã hứa với hai con bé, sinh nhật mười tám tuổi tụi nó, ba sẽ kể hết.
- 0:50
그때 아이들이 아빠를 어떻게 생각하든 그건 아이들의 권리다.
Đến lúc đó tụi nó nghĩ về ba thế nào là quyền của tụi nó.
- 0:55
여기서는 내가 먼저 털어놓는다.
Còn ở đây, tôi kể trước.
- 0:58
자랑하려는 게 아니다.
Không phải để khoe.
- 1:00
한때는 그 시절이 내 인생에서 가장 잘나가던 때라고 생각했다.
Đã có thời tôi tưởng đó là những năm oai nhất đời mình.
- 1:05
지금 돌아보면, 그저 살아남은 게 다행이라는 생각, 그리고
Giờ nhìn lại, tôi chỉ thấy may mà mình còn sống, và xấu hổ
- 1:09
나만큼 운이 좋지 못했던 사람들에게 부끄럽다는 생각뿐이다.
vì những người đã không may như mình.
- 1:15
우리 동네는 가난한 동네였다.
Xóm tôi là một xóm nghèo.
- 1:18
별별 사람이 다 살았지만 대부분은 가난했다.
Đủ loại người, nhưng nghèo là chủ yếu.
- 1:21
그 시절 아이들은 늘 배가 고팠다. 지금처럼 호강하던 때가 아니었다.
Trẻ con hồi đó đói lắm, đâu sung sướng được như bây giờ,
- 1:26
떼 지어 몰려다니며 노는 것만이 즐거움이었다.
chỉ có kéo bè kéo lũ chơi với nhau là vui.
- 1:29
윗동네고 아랫동네고 시끌벅적했다.
Xóm trên xóm dưới nhộn nhịp cả lên.
- 1:32
그러다 아랫동네에 시장이 들어서면서 모든 것이 달라졌다.
Rồi khu chợ mọc lên ở xóm dưới, và mọi thứ khác đi.
- 1:36
시장이 생긴 아랫동네는 살 만해졌고, 민도나 재산이나 우리 윗동네보다 훨씬 나았다.
Xóm dưới có chợ thì ngon lành, dân trí với của cải đều hơn xóm trên tụi tôi nhiều.
- 1:44
동네 형들은 패를 나누고 경계선을 그었다. 윗동네가
Mấy anh lớn bắt đầu chia bè chia lũ, vạch ranh giới, để xóm trên khỏi ké
- 1:50
시장 좌판 자릿세나 물건 사들이는 돈에서 한 푼도 얻어먹지 못하게 하려고.
được đồng nào từ tiền bảo kê sạp hàng hay thu mua hàng hóa trong chợ.
- 1:58
윗동네 아이가 아랫동네에 잘못 들어갔다가는 얼굴이 퉁퉁 붓도록 얻어맞았고, 그 반대도 마찬가지였다.
Trẻ con xóm trên lạc xuống xóm dưới là ăn đòn ngập mặt, và ngược lại.
- 2:06
윗동네와 아랫동네가 한마음으로 따른 사람은 단 둘뿐이었다.
Chỉ có hai người làm được chuyện mà cả xóm trên lẫn xóm dưới đồng lòng đầu quân:
- 2:12
흥 영감의 형, 그리고 흥 영감.
anh của lão Hưng, rồi tới lão Hưng.
- 2:17
영감의 형은 가장 오래 동네를 다스린 사람이었다. 오 년을 내리 다스렸다. 동네 사람들은 모두 그를 "라오 형"이라고 불렀다.
Anh lão là người cai trị lâu nhất, năm năm liền. Cả xóm gọi anh là "anh Lão".
- 2:23
스포츠머리에 꽤 험상궂게 생겼는데도
Đầu đinh, nhìn khá bặm trợn,
- 2:26
입가에는 늘 웃음이 걸려 있었다. 그 둘이 한 얼굴에 있으니 묘하게 어울리지 않았다.
vậy mà lúc nào cũng có nụ cười trên môi, hai thứ đó đặt cạnh nhau nhìn nghịch lắm.
- 2:32
라오 형이 동네를 쥐고 있던 시절은 평온했다.
Những năm anh Lão cầm xóm là những năm yên ổn.
- 2:36
그러다 형이 병에 걸려 서른 갓 넘은 나이에 세상을 떴다.
Rồi anh bệnh, mất khi mới ngoài ba mươi.
- 2:39
형이 눕자마자 두 동네는 다시 삐걱대기 시작했다.
Anh vừa nằm xuống thì hai xóm lại lục đục.
- 2:46
두 동네를 잇는 길은 쇠문으로 막혔다.
Con đường nối hai xóm bị chặn bằng một cái cổng sắt.
- 2:50
우리 꼬맹이들은 그걸 "매타작 쇠문"이라고 불렀다. 넘어가기만 하면 매번 얻어터졌으니까.
Tụi con nít tụi tôi gọi nó là "cửa sắt ăn đòn", vì cứ mò sang là ăn đòn hoài.
- 2:59
1997년.
Năm 1997.
- 3:02
우리 일곱은 서너 살 때부터 같이 놀았다.
Bảy đứa tụi tôi chơi với nhau từ hồi ba bốn tuổi.
- 3:06
롱은 재빠르고 가만있지를 못했고, 늘 입이 몸보다 먼저 나갔다.
Thằng Long nhanh nhảu, hiếu động, mồm lúc nào cũng đi trước người,
- 3:11
모습은 안 보여도 목소리는 늘 들렸다.
toàn nghe tiếng nó chứ chẳng thấy nó đâu.
- 3:14
그래서 우리는 녀석을 롱로아(확성기)라고 불렀는데, 녀석이 하도 난리를 쳐서 롱러로 바꿨다.
Tụi tôi gọi nó là Long Loa, nó la làng quá nên đổi thành Long Lờ.
- 3:19
브엉의 본명은 부다.
Thằng Vương tên thật là Vũ.
- 3:22
태어날 때 털이 하나도 없는 병을 앓아서, 부모님이 깃털이라는 뜻의 '부'라는 이름을 붙였다.
Hồi sinh ra nó bị bệnh không có lông, ba mẹ nó đặt tên Vũ, tức là lông.
- 3:27
우리 말고 누구든 녀석을 부라고 불렀다가는, 녀석이 털을 곤두세우고 달려들어 두들겨 팼다.
Ngoài tụi tôi ra, đứa nào dám gọi nó là Vũ thì nó xù lông lên lao vào đánh liền.
- 3:33
티엔은 어릴 때 밤마다 울어서,
Thằng Thiện hồi nhỏ hay khóc đêm,
- 3:36
엄마가 성격이 순해지라고 '센(연꽃)'이라는 아명을 지어 주었다.
mẹ nó đặt tên cúng cơm là Sen cho tính tình dễ chịu.
- 3:40
센은 내가 아는 아명 중 제일 웃긴 이름이었고, 나중에 녀석이
Tên Sen là cái tên cúng cơm hài nhất tôi từng biết, sau này nhìn nó lớn lên
- 3:46
괴물처럼 자라는 걸 보니 더 웃겼다.
như con quái vật thì càng hài.
- 3:49
뚱보 찌엔은 땅딸막하고 겁이 많았는데, 목청만 크고 울보였다.
Thằng Chiến béo thì lùn một khúc, nhát gan, gáy to, mít ướt.
- 3:54
바오는 우리 중 제일 웃기는 놈이었다. 공을 하늘로 차올려 잃어버리는 전문가,
Thằng Bảo là đứa hài nhất đám, chuyên gia sút bóng lên trời làm mất bóng,
- 3:59
망고 서리를 하고 자기 몫을 못 받으면 고자질하는 전문가,
chuyên gia hớt lẻo tụi tôi đi ăn trộm xoài nếu không được chia phần,
- 4:05
뚱보 찌엔의 바지를 벗겨서 둘이 바지를 차지하려고 쫓고 쫓기는 전문가였다.
chuyên gia tụt quần Chiến béo rồi hai đứa rượt nhau giành cái quần.
- 4:10
그리고 민, 민락은 어릴 때부터 약삭빠르고 잔꾀가 많았다.
Còn thằng Minh, Minh Lác, thì gian manh khôn lỏi từ bé.
- 4:17
한번은 우리가 군것질을 하다가 구멍가게 할머니한테 몇만 동을 외상으로 졌다.
Có lần cả đám ăn vặt nợ bà bán tạp hóa mấy chục nghìn.
- 4:24
민은 시장에 가서 몇천 동짜리 가짜 팔찌를 하나 사 오더니, 어떻게 입을 놀렸는지
Thằng Minh ra chợ mua cái vòng tay hàng nhái có mấy nghìn, về mồm mép làm sao
- 4:30
가게 할머니가 그게 녀석이 주운 귀한 팔찌라서 몰래 파는 거라고 철석같이 믿어 버렸다.
mà bà tạp hóa tin sái cổ đó là vòng quý nó nhặt được, đem bán lén.
- 4:38
외상이 깨끗이 지워졌고, 할머니는 덤으로 음료수까지 몇 병 얹어 주었다.
Xóa sạch nợ, còn được bà khuyến mãi thêm mấy chai nước ngọt.
- 4:45
1학년 때, 동네 형들이 피를 섞어 의형제를 맺는 걸 보고 우리도 따라 했다.
Năm lớp 1, thấy mấy anh lớn trong xóm cắt máu ăn thề, tụi tôi cũng bắt chước.
- 4:54
바오는 겁이 많고 아픈 걸 무서워해서 손을 베지 못했다.
Thằng Bảo nhát, sợ đau, không dám cắt tay.
- 4:57
그래서 다 같이 녀석을 붙잡고 베어 줬는데, 그만 너무 깊이 베는 바람에 피가 많이 나서 녀석은 자지러지게 울었다.
Thế là cả đám đè nó ra cắt, mà lỡ tay cắt sâu quá, máu chảy nhiều, nó khóc ré lên.
- 5:06
그런데 정작 피 섞은 술잔이 녀석 차례가 되자, 뚝 그치고 잔을 들어 마셨다.
Vậy mà tới lượt nó bưng chén máu pha rượu thì nó nín khe, cầm lên uống.
- 5:14
일곱은 망고나무 아래에서 의형제를 맺었다.
Bảy đứa kết nghĩa dưới gốc cây xoài.
- 5:17
민이 부두목이 됐다.
Thằng Minh làm lão phó.
- 5:20
평생 형제로 살고, 복이 있으면 함께 누리고,
Nguyện cả đời làm anh em, có phúc cùng hưởng,
- 5:24
화가 있으면 함께 짊어지고, 살아서나 죽어서나 떨어지지 않겠노라고 맹세했다.
có họa cùng gánh, sống chết không rời.
- 5:27
우리는 그걸 "망고원 결의"라고 불렀다.
Tụi tôi gọi đó là "kết nghĩa xoài viên".
- 5:30
그때 우리는 "살아서나 죽어서나"라는 말이 그냥 말뿐인 줄 알았다.
Hồi đó, tụi tôi tưởng mấy chữ "sống chết" chỉ là chữ.
- 5:37
2003년 말.
Cuối năm 2003.
- 5:40
내가 7학년 때, 흥 영감이 감옥에서 나왔다.
Năm tôi học lớp 7, lão Hưng ra tù.
- 5:45
영감은 아버지를 죽인 죄로 육 년을 살았다.
Lão ngồi sáu năm vì tội giết cha.
- 5:48
영감이 왜 그랬는지는 영감의 일이니, 여기서는 말하지 않겠다.
Chuyện vì sao lão làm vậy là chuyện của lão, tôi xin không kể ở đây.
- 5:54
이웃들은 서로 손가락질하며 수군댔다. 예전의 흥은 잘생기고 순했던 만큼,
Hàng xóm chỉ trỏ nhau mà nói, hồi trước thằng Hưng đẹp trai hiền lành bao nhiêu
- 6:00
감옥에서 나온 지금은 딱 그만큼 정반대가 됐다고.
thì giờ ra tù ngược lại bấy nhiêu.
- 6:02
영감은 무서울 만큼 냉혹하고 과묵해져서 돌아왔다.
Lão về, máu lạnh và trầm tính đến đáng sợ.
- 6:06
영감은 어깨까지 닿을 듯한 긴 머리를 말총머리로 묶고 다녀서, 풍파를 겪은 예술가처럼 보였다.
Lão để tóc dài gần tới vai, cột đuôi ngựa, nhìn phong trần như ông nghệ sĩ.
- 6:12
키는 크고, 아마 173에서 175센티미터쯤 됐을 것이다.
Người cao, chắc cỡ mét bảy ba, bảy lăm.
- 6:15
팔에 문신이 좀 많다는 것만 빼면 겉보기엔 평범한 사람 같았다.
Ngoài mực xăm hơi nhiều ở tay thì nhìn lão cũng như một người bình thường.
- 6:21
영감은 언제나 차분하게 말했고, 다른 놈들처럼 입만 열면 욕을 내뱉지도 않았다.
Lão ăn nói lúc nào cũng điềm đạm, chẳng mở mồm ra là văng tục như mấy thằng khác.
- 6:29
하지만 영감은 차가웠다.
Nhưng lão lạnh lắm.
- 6:32
영감이 쳐다보면 누구든 저절로 옆으로 비켜서고 싶어졌다.
Lão nhìn ai, người đó tự khắc muốn né qua một bên.
- 6:42
우리 일곱은 바로 그해에 영감 밑으로 들어갔다.
Bảy đứa tụi tôi đầu quân cho lão ngay năm đó.
- 6:45
열두 살, 아직 코흘리개였지만 피는 끓었다.
Mười hai tuổi, còn bé tí mà máu chó lắm.
- 6:49
일곱 놈이 한꺼번에 몰려다니니 무서울 게 없었다. 시비만 걸면 팼다.
Đi một lần cả đám bảy thằng thì sợ gì thằng nào, cứ gây là đập.
- 6:54
열두 살에 나는 처음으로 칼부림에 나갔다.
Năm mười hai tuổi, tôi đi chém nhau lần đầu tiên.
- 6:57
첫 칼에 나는 한 놈의 가슴팍을 가로로 그었다. 피가 내 손에 흥건했다.
Nhát đầu tiên tôi chém ngang ngực một thằng. Máu chảy đầy tay tôi.
- 7:03
솔직히 말하면 그때 나는 혼이 빠지도록 무서웠다.
Tôi nói thật, lúc đó tôi sợ khiếp vía.
- 7:06
반면 롱은 나중에도 가슴을 탕탕 치며 자랑했다.
Còn thằng Long thì sau này cứ vỗ ngực khoe:
- 7:09
너는 쫄보야.
Mày cùi bắp.
- 7:12
나는 처음에 어떤 놈 엄지손가락을 날려 버렸는데도 하나도 안 무서웠어.
Lần đầu tao chém rụng ngón cái thằng kia rồi, tao có sợ đâu.
- 7:17
녀석 말은 사실이었다.
Nó nói thật.
- 7:19
패거리 중에 제일 어린 놈이 제일 사납게 싸웠다. 녀석보다 사나운 건 티엔 하나뿐이었다.
Đứa nhỏ nhất đám nhưng đánh hăng nhất đám, chỉ thua mỗi thằng Thiện.
- 7:28
친아버지는 내가 어릴 때 떠났다.
Ba ruột tôi bỏ đi từ hồi tôi còn nhỏ.
- 7:31
하지만 나는 아버지가 아쉽지 않았다. 우리 패거리는 서로의 아버지를 전부 양아버지로 모셨기 때문이다.
Nhưng tôi cũng chẳng thiếu ba, vì đám tụi tôi nhận bố của nhau làm bố nuôi hết.
- 7:37
누구네 아버지든 우리 모두의 아버지였고,
Ông già đứa nào thì cũng là ông già của cả bọn,
- 7:41
누가 말썽을 피우든 어느 아버지든 때릴 권리가 있었다.
đứa nào hư thì ông nào cũng có quyền đánh.
- 7:47
한번은 패거리가 싸움을 하러 나갔다가
Có lần cả đám đi đánh lộn,
- 7:49
내 양아버지에게 붙잡혀, 모두 집으로 끌려가 무릎을 꿇고 매를 기다리게 됐다.
bị ông già nuôi của tôi bắt được, lôi hết về nhà bắt quỳ chờ ăn roi.
- 7:54
그날 브엉은 따라가지 않고 집에서 패거리 전체의 숙제를 하고 있었다.
Riêng thằng Vương hôm đó không đi, nó ở nhà làm bài tập cho cả đám.
- 8:02
소식을 듣자 녀석은 한달음에 달려와 우리 옆에 무릎을 꿇었다.
Nghe tin, nó chạy một mạch qua, quỳ xuống cạnh tụi tôi.
- 8:06
부야, 너는 싸움도 안 했는데 왜 얘들이랑 같이 꿇고 있냐?
Thằng Vũ, con có đánh lộn đâu mà quỳ với tụi nó?
- 8:10
얘들은 제 형제예요.
Dạ, tụi nó là anh em với con.
- 8:13
얘들이 매를 맞는데 저만 안 맞을 수는 없어요.
Tụi nó ăn roi thì con không thể không ăn roi.
- 8:19
아버지는 고개를 끄덕이더니 녀석도 함께 때렸다. 그날 밤 내내 비명 소리가 온 집 안에 울렸다.
Ba tôi gật gù, rồi quất nó luôn. Cả tối đó tiếng la vang khắp nhà.
- 8:24
롱 녀석네 부모님들도 밖에서 듣고만 있을 뿐,
Mấy ông bà già của đám thằng Long ở bên ngoài nghe mà cũng im re,
- 8:29
아무도 감히 들어와 말리지 못했다.
không ai dám vào can.
- 8:34
엄마는 때리지 않았다.
Mẹ tôi thì không đánh.
- 8:37
엄마는 그저 말렸다. 입이 닳도록 말리고 또 말렸다.
Mẹ chỉ can, can hoài, can tới mỏi miệng.
- 8:40
엄마가 순한 만큼 나는 사나웠다.
Mẹ hiền bao nhiêu thì tôi dữ bấy nhiêu.
- 8:49
2004년. 흥 영감이 돌아온 지 여섯 달 만에 두 동네 사이의 쇠문이 박살 났다.
Năm 2004. Lão Hưng về được sáu tháng thì cái cổng sắt giữa hai xóm bị đập nát.
- 8:55
그때부터 영감의 시대가 시작됐다.
Kỷ nguyên của lão bắt đầu từ đó.
- 8:58
영감 밑에는 윗동네와 아랫동네가 모두 있었다.
Dưới tay lão là cả xóm trên lẫn xóm dưới.
- 9:02
아랫동네에는 전이 있었다. 집이 가난해서 어려서부터 남을 따라 고기잡이를 나가고
Bên xóm dưới có thằng Dân, nhà nghèo, từ nhỏ đã theo người ta đi đánh cá
- 9:07
생선을 팔고 짐을 날랐다. 학교 다닐 돈이 없어 글을 몰랐다.
rồi bán cá, bốc vác, chẳng có tiền đi học, không biết chữ.
- 9:12
윗동네에는 뚱보 하오가 있었다.
Bên xóm trên có thằng Hạo mập.
- 9:14
그리고 깜둥이 띤,
Rồi thằng Tín Đen,
- 9:17
애꾸 프억, 꼬마 마인, 그 밖에 크고 작은 꼬맹이 열댓 명이 우글거렸다.
thằng Phước chột, thằng nhỏ Mạnh, và cả chục đứa lóc nhóc lớn nhỏ.
- 9:22
그리고 응이아가 있었다. 녀석은 나보다 두 살 위였고, 어릴 때부터 우리와 같은 동네에서 자랐다.
Rồi thằng Nghĩa. Nó hơn tôi hai tuổi, cũng lớn lên trong xóm với tụi tôi từ nhỏ.
- 9:28
그런데 그 무렵 동네 서열로는 녀석이 나보다 아래였기에, 나는 버릇처럼 그냥 "응이아"라고 불렀다.
Mà vai vế trong xóm lúc đó nó lại thấp hơn tôi, nên tôi quen mồm gọi "thằng Nghĩa".
- 9:35
녀석도 내가 형이라고 부르는 걸 싫어했다. "유난 떤다"면서.
Nó cũng không thích tôi gọi anh, chê "bày vẽ".
- 9:38
우리는 녀석을 남덧, 응우디아라고 불렀고, 가끔은 낮잠꾸러기 응이아라고도 했다.
Tụi tôi gọi nó là Năm Đất, Ngũ Địa, có lúc là Nghĩa Ngủ Ngày.
- 9:43
배운 건 적어도 생각이 깊었고, 냉정하고 배짱이 있었다.
Học ít nhưng sâu sắc, máu lạnh và có bản lĩnh.
- 9:47
녀석은 입이 아주 독했다. 그 입에서 듣기 좋은 소리가 한마디라도 나오면 내 손에 장을 지지겠다.
Mồm nó độc lắm, cái mồm mà thốt ra được câu nào êm tai thì tôi chết liền.
- 9:53
하지만 속은 착했다.
Nhưng cái tâm nó tốt.
- 9:55
녀석은 우리 일곱처럼 온종일 몰려다니지는 않았지만,
Nó không suốt ngày chạy rong với bảy đứa tụi tôi, nhưng cũng là tay chân
- 10:01
나처럼 흥 영감의 수족이었고, 한 상에서 밥을 먹으며 여러 해를 어깨를 나란히 했다.
của lão Hưng như tôi, ăn chung mâm, sát cánh với nhau mấy năm trời.
- 10:09
흥 영감은 규칙을 정했다.
Lão Hưng đặt luật.
- 10:12
영감 밑에 있는 사람은 누구도 마약에 손대서는 안 된다. 영감은 자주 말했다.
Ai dưới tay lão cũng cấm đụng vào chất gây nghiện. Lão hay nói:
- 10:17
예전 형들이 한 시절 통째로 무너진 것도 다 약 때문이었다.
Mấy anh lớn thời trước suy sụp cả một thời cũng vì hút chích.
- 10:22
나는 그 전철을 밟고 싶지 않다.
Anh không muốn đi theo vết xe đổ.
- 10:27
그런데도 몇몇 놈은 빠져나가 중독됐다. 영감은 그런 놈들과는 모두 연을 끊었다.
Vậy mà vẫn có vài thằng xổng ra, nghiện ngập. Lão từ mặt hết.
- 10:32
영감이 차마 모른 척하지 못한 몇 놈은, 영감이 직접 끌어내 구해 냈다.
Có vài thằng lão không làm ngơ được thì lại tự tay lôi ra cứu.
- 10:36
또 하나의 규칙. 우두머리의 뜻이 최고이고, 따르지 않는 놈은
Luật nữa: ý của người đứng đầu là lớn nhất, đứa nào không nghe
- 10:41
경고로 귀를 자른다.
thì cắt lỗ tai cảnh cáo.
- 10:46
영감은 그렇게 겁만 줬을 뿐 실제로 한 적은 한 번도 없었다.
Lão hù vậy thôi chứ chưa làm thật bao giờ.
- 10:50
영감은 아랫사람들을 무척 아꼈다.
Lão thương anh em lắm.
- 10:52
영감은 몸에 총을 지니고 다녔다.
Trong người lão có súng.
- 10:55
나나 롱 녀석네처럼 영감 가까이 있는 놈들만,
Chỉ đứa nào ở gần lão như tôi với đám thằng Long
- 10:59
영감에게 적어도 두 자루가 있다는 걸 알았다.
mới biết lão có ít nhất hai khẩu,
- 11:02
하나는 검은색 K54였고, 다른 하나는 K59처럼 생겼다.
một khẩu K54 màu đen, một khẩu nữa giống K59.
- 11:05
밖에 나갈 때는 그때그때 둘 중 하나를 챙겼다.
Ra ngoài, tùy lúc, lão mang theo một trong hai.
- 11:09
나는 영감이 총을 쏘는 걸 두 번 봤는데, 두 번 다 다리를 쐈다.
Tôi từng thấy lão nổ súng hai lần, lần nào cũng bắn vào chân.
- 11:14
그 시절 한 구역의 꼭대기에 선 놈들은 다들 총이 있었지만,
Thời đó, thằng nào đứng trên đỉnh một khu đều có súng cả,
- 11:18
총을 쏘는 건 금기였다. 경찰이 눈여겨보고 구역 전체를 쓸어 버리기 때문이다.
nhưng nổ súng là điều cấm kỵ, công an sẽ để ý mà quét cả khu.
- 11:23
그래서 대부분은 칼부림이었다.
Nên chủ yếu vẫn là chém nhau.
- 11:26
영감은 우리에게 사람을 죽이는 것도 허락하지 않았다. 중범죄에 엮일까 봐서였다.
Lão cũng không cho tụi tôi giết người, sợ dính trọng án.
- 11:33
정말 큰일은 영감과 영감의 감방 동료들만 나섰다.
Những vụ lớn thật sự thì chỉ có lão với đám bạn tù của lão đi.
- 11:38
그 감방 동료들은 평소에는 술이나 마시고 아무 데나 뒹굴며 잠만 잤다.
Đám bạn tù đó, ngày thường chỉ ăn nhậu rồi nằm lăn lóc mà ngủ.
- 11:43
영감이 그 패거리를 한 명도 빠짐없이 불러 모으는 날이면,
Lúc nào lão triệu tập đủ mặt đám đó,
- 11:46
우리는 그날 밤 우리가 물어서는 안 될 일이 있다는 걸 알았다.
là tụi tôi biết đêm đó có chuyện mà tụi tôi không nên hỏi.
- 11:51
그런 일들은 나도 직접 보지 못하고 전해 듣기만 했고, 다시 옮기고 싶지도 않다.
Những chuyện ấy tôi không chứng kiến, chỉ nghe kể, và tôi cũng không muốn kể lại.
- 11:57
말하고 보니 그 시절 나나 롱 녀석네는 순한 편이었다.
Nói ra mới thấy tôi với đám thằng Long hồi đó còn hiền chán.
- 12:02
정말 끔찍한 건 흥 영감 패거리였다.
Đám lão Hưng mới thật sự khủng khiếp.
- 12:05
그 패거리 중에 가르마를 한가운데로 탄 영감이 하나 있었는데,
Trong đám đó có một lão tóc rẽ ngôi giữa,
- 12:08
동네 형제들은 그를 "꽈배기 남"이라고 불렀다.
anh em trong xóm gọi bằng cái tên "thằng Năm Xoắn".
- 12:12
그렇게 불린 건 그 영감이 손을 쓰는 방식 때문인데, 나는 묘사하지 않겠다.
Gọi vậy vì cái kiểu ra tay của lão, tôi không tả.
- 12:16
그렇게 잔혹한 사람이 바퀴벌레 공포증이 있었다.
Tàn bạo cỡ đó mà lão lại mắc chứng sợ gián.
- 12:22
한번은 나랑 롱이 바퀴벌레 한 마리를 그 영감 바지 속에 집어넣었다.
Có lần tôi với thằng Long nhét một con gián vào quần lão.
- 12:29
영감은 밤새 비명을 지르며 한자리에 꼼짝 못 하고 누워서, 바퀴벌레 좀 꺼내 달라고 울면서 나한테 사정했다.
Lão ré lên cả đêm, nằm im một chỗ, khóc lóc năn nỉ tôi lấy con gián ra dùm.
- 12:35
지금도 그 얘기만 나오면 다들 배꼽을 잡는다.
Tới giờ nhắc lại, cả đám vẫn cười đau ruột.